Đợi đến khi mặt trời dần dần lặn xuống, lúc ấy Liễu Hạ cùng Kỷ Văn Tuyển mới đến địa điểm đã hẹn với Kỷ phụ. Vốn dĩ hai người tính đi Kim Sơn Tự bái Phật một phen nhưng thật sự không kịp, đành thôi.
Lúc này Kim Sơn Tự tuy chưa nhờ truyền thuyết Bạch Nương Tử mà nổi danh khắp nơi nhưng ở vùng Giang Nam thì cũng là ngôi chùa rất có tiếng. Tô Thức từng đề thơ Đề Kim Sơn Tự, bài này có thể đọc xuôi, cũng có thể đọc ngược, ý cảnh hoàn toàn khác nhau.
Trên đường về, bụng Liễu Hạ và Kỷ Văn Tuyển đều đói, mỗi người mua một cái bánh nướng để ăn. Kỷ Văn Tuyển vừa nhai vừa than với Liễu Hạ:
“Bài tập phu tử giao hôm qua mười tờ ta còn chưa viết xong, đêm nay lại phải thắp đèn thức khuya mất rồi.”
Thực ra nhiệm vụ Tôn phu tử giao cũng không nặng, chỉ là hơi tốn giấy mà thôi.
Khi nộp bài, Liễu Hạ chỉ viết một mặt giấy. Nhưng nếu luyện chữ ở nhà, một tờ giấy hắn đều viết kín cả hai mặt. Để chỗ trống rất lãng phí, ngay cả mép giấy hắn cũng chèn đầy chữ. Nếu không phải vì ứng thí, hắn thậm chí còn muốn cố tình viết chữ nhỏ lại.
Hắn vốn không có thói quen ghi nhật ký, nhưng hằng ngày vẫn lập ra danh sách công việc phải hoàn thành: ôn lại bài giảng, luyện chữ, cùng kế hoạch học tập.
Hiện giờ, Liễu Hạ đã học xong Tứ thư, còn Ngũ kinh thì chưa bắt đầu. Tuy đã học, nhưng vào kỳ khảo thí thì nên trả lời thế nào, hắn vẫn chưa nắm chắc.
Xe ngựa lắc lư trên đường, đi dạo cả ngày, Kỷ Văn Tuyển chẳng còn hứng tán gẫu, ngồi yên lặng. Liễu Hạ nhân đó liền ôn lại mấy thiên trong Trung Dung mà mình đã thuộc. Đọc nhiều, nhớ kỹ, dần dần cũng sẽ hiểu được ý nghĩa bên trong.
Mấy quyển sách mua từ thư điếm đặt trong ngực khiến hắn thấy nóng, bèn đặt sang một bên. Thật ra Liễu Hạ cũng muốn mua tập trình văn [bài văn mẫu của kỳ thi Hội], nhưng giá mỗi tập quá cao, trong thư điếm loại sách này chủ quán vốn chẳng lo ế hàng, hắn có muốn mặc cả cũng không được.
Liễu Hạ nghĩ bụng, lần sau đến thư điếm có thể tranh thủ nhớ trước một hai thiên, về nhà chậm rãi chép lại cũng được. Dù sao đây cũng là bài văn đạt điểm tối đa của khoa cử, ghi nhớ một chút cũng chẳng thiệt gì.
Xe ngựa rẽ qua một khúc quanh, đường đã bớt gập ghềnh. Danh sơn ở Trấn Giang phủ đều ở gần phủ thành, nhưng đến huyện Đan Đồ, núi non lại ít đi. Xa hơn nữa chính là huyện Giang Ninh, thuộc Ứng Thiên phủ quản hạt. Còn Cú Dung, về sau thuộc Trấn Giang, thì thời kỳ này vẫn do huyện Giang Ninh quản lý.
Lúc này trời cũng đã tối hẳn.
Tiếng ếch nhái, côn trùng kêu rộn rã, nhưng Liễu Hạ không còn tâm trí đọc thuộc, bèn dựa vào thành xe chợp mắt một lát. Dù xe vẫn lắc lư, hắn cũng chẳng bận tâm.
Khi xe ngựa đến đầu thôn, Kỷ phụ liền cho Liễu Hạ xuống.
Chưa bước đến cổng nhà, từ xa Liễu Hạ đã thấy Kỷ nương tử đứng tựa cửa chờ. Ban đầu nàng chưa để ý, đợi đến khi Liễu Hạ cố ý bước thật nặng cho có tiếng động đi lại gần, Kỷ nương tử mới mở rộng cửa hơn, gọi:
“Hạ ca nhi!”
Hôm nay hắn lên huyện, về còn muộn hơn ngày thường đi học. Kỷ nương tử vốn đã không yên lòng sau khi trời tối, ra ngóng mấy lần vẫn chưa thấy về, cuối cùng chẳng nhịn được, đứng ngoài cửa chờ.
Liễu Hạ ôm mấy quyển sách, cùng bút và giấy vào nhà. Hắn tháo túi tiền đồng buộc bên người xuống, đưa lại số tiền thừa sau khi mua sách cho Kỷ nương tử, rồi lấy ra thêm ba trăm văn:
“Nương, con đã nhận một công việc chép sách trong thư điếm.”
Nụ cười còn vương trên mặt Kỷ nương tử, vừa thấy con đưa tiền, nước mắt lập tức rơi xuống:
“Hạ ca nhi, con chỉ cần yên tâm đọc sách, chuyện trong nhà không cần bận lòng.”
Kỷ nương tử không rõ chép sách sẽ tốn bao nhiêu sức lực, nhưng nàng biết, hằng ngày Liễu Hạ đã đọc sách cực nhọc lắm rồi. Nếu còn nhận thêm việc chép sách, thân thể vốn đã gầy yếu của con trai, lâu dài sao chịu nổi?
“ Nương, con chép chính là thời văn tập đều là bài thi khoa cử, sẽ không ảnh hưởng việc học đâu.”
Tuy Liễu Hạ nói vậy, Kỷ nương tử vẫn thương xót:
Liễu Hạ lật nhật ký của phụ thân, lại cảm thấy khi cha mình đọc sách còn khổ hơn hắn nhiều. Lúc ấy điều kiện gia đình còn chẳng bằng bây giờ, thậm chí tổ phụ từng có ý định bắt cha hắn về nhà cày ruộng. Mãi đến khi cha hắn đỗ Tú tài, được phân cho ruộng đất trong tộc, cuộc sống mới dần dần khấm khá lên.
Kỷ nương tử được Liễu Hạ khuyên nhủ, rốt cuộc cũng nín khóc.
Sau bữa cơm tối, Liễu Hạ không cho mẹ ngồi thêu thùa nữa, nhưng khi hắn đọc sách, Kỷ nương tử cũng chẳng thể yên tâm mà ngủ. Bà đi vào bếp pha cho hắn một bình trà, lại chuẩn bị thêm ít đồ ăn, phòng khi Liễu Hạ học xong mà thấy đói bụng.
Trong khoảng trống rỗi rãi ấy, Kỷ nương tử bắt đầu tập lại những động tác dưỡng sinh mà Liễu Hạ đã dạy. Bà cũng chẳng rõ hắn học được từ đâu, ban đầu luyện thấy rất lạ, nhưng lâu dần lại phát hiện chúng thực sự có lợi cho thân thể. Từ sau khi Liễu Tín mất, bà vốn bệnh tật triền miên, thế mà dạo này sức khỏe ngày càng tốt hơn.
Trong thư phòng, Liễu Hạ bắt đầu chép tập thời văn này. Kỳ hạn là bảy ngày, nghĩa là mỗi ngày phải chép hơn hai nghìn chữ. Nghĩ đến còn có thể bị chuyện khác làm chậm trễ, Liễu Hạ tạm định kế hoạch chép ba đến bốn nghìn chữ một ngày. Như vậy, e rằng buổi tối hắn phải dành trọn cho việc chép sách.
Nghĩ đến giờ nghỉ trưa ở học đường, Liễu Hạ cũng dự định tranh thủ dùng để chép sách.
Tập thời văn này tuyển chọn những bài văn của mấy danh thủ khoa cử ở kinh thành đương thời. Thời văn thực chất chính là dạng bài tham khảo. Trình văn cơ bản do triều đình phát hành, toàn là những bài văn trong khoa cử có chỗ xuất sắc.
[Thời văn: tức văn nghị luận theo khuôn phép khoa cử thời Minh]
[Trình văn: bài văn mẫu chính thức]
Đặc biệt, Hương thí lục và Hội thí lục càng được hoan nghênh, thường trở thành khuôn mẫu để sĩ tử tập viết. Tất nhiên, ai cũng biết trình văn phần nhiều do quan khảo thí “nhuận sắc” đôi chút, thậm chí trực tiếp thay sĩ tử viết, bởi đây là văn bản chính thức phát cho thiên hạ sĩ tử, tuyệt đối không được có một chút sơ suất nào.
Còn thời văn tập thì không chính thức như vậy, nhưng cũng chọn từ những bài hay của các sĩ tử xuất sắc khắp nơi.
Trong nhà Liễu Hạ cũng có hai quyển, đều do Liễu Tín để lại, trong đó có một quyển mang tên “Nghĩa Tắc Tập”, được Vương Thận Trung viết tựa.
Liễu Hạ trải giấy, rửa tay sạch sẽ, rồi hít sâu một hơi, chấm mực đề bút, bắt đầu chép bài đầu tiên trong thời văn tập. Đề mục là — “Tử viết: Ngô dữ Hồi ngôn, chung nhật, bất vi, như ngu...”
[Luận Ngữ - Vi Chính: Khổng Tử nói, ta cùng Nhan Hồi giảng học suốt ngày, Hồi không hề đưa ra ý kiến, như thể kẻ ngu. Nhưng sau khi y lui ra, ta lặng lẽ quan sát hành vi, thấy y có phát huy thêm điều ta giảng, đủ thấy Hồi thật ra chẳng ngu chút nào.]
Bài văn viết rằng— “Thánh nhân dữ đại hiền chi ngộ...” [Thánh nhân và bậc đại hiền lĩnh hội...]
Nội dung nhấn mạnh học là phải “tâm ngộ” [dùng tâm để lĩnh hội], chứ không phải chỉ cầu nơi ngôn từ. Ý nói Nhan Tử tự lĩnh hội được, lại rất sâu sắc.
Trước khi chép, Liễu Hạ đã đọc qua một lượt, đến khi hạ bút thì toàn thân tâm đều tập trung, sức lực dồn cả vào cổ tay. So với lúc mới bắt đầu luyện chữ, chữ viết của hắn nay đã tiến bộ rất nhiều. Nhưng lần này chép sách cho người, hắn lại càng dụng tâm hơn, dù sao đây cũng là công việc, hắn còn muốn nhận được lời khen của người thuê, để lấy được phần tiền còn lại.
Khi viết xong đoạn đầu, trong lòng Liễu Hạ vẫn còn lo sợ: sợ giọt mực dây lên giấy trúc, hay một nét nào đó vô tình viết lệch. Nhưng đến khi thật sự nhập tâm, thì dường như trong trời đất chỉ còn lại một mình hắn, tiếng ếch nhái, côn trùng đều chẳng nghe thấy, ngay cả tiếng gió đập vào cửa sổ cũng tan biến khỏi tai.
Trong mắt hắn chỉ có bút, trong lòng chỉ có văn, bút hạ xuống liền như được thần trợ.
Đó là bài văn thứ nhất.
Bài văn thứ hai trích từ thiên Lương Huệ Vương trong Mạnh Tử, bàn về câu “Vị hữu nghĩa nhi hậu kỳ quân giả” [chưa từng có kẻ nào có nghĩa mà lại đứng sau vua mình]. Nguyên văn là:
“Vị hữu nhân nhi di kỳ thân giả, vị hữu nghĩa nhi hậu kỳ quân giả”
[chưa từng có ai có nhân mà bỏ rơi cha mẹ, chưa từng có ai có nghĩa mà coi vua mình ở phía sau].
Đây chính là đoạn Mạnh Tử khuyên Lương Huệ Vương trở thành một bậc nhân quân.
Liễu Hạ hiện tại tuy chưa bắt đầu tập làm chế nghệ*, nhưng chỉ dựa vào cảm giác khi đọc, hắn cũng thấy mấy bài thời văn này quả thực viết rất hay.
*[bài văn nghị luận theo thể thức khoa cử]
Dĩ nhiên, nhiệm vụ chính của hắn là chép lại, chứ không phải bình luận xem bài văn ấy hay dở thế nào.
Liên tục chép ba bài, cổ tay Liễu Hạ đã có chút mỏi nhừ. Hắn đứng dậy uống ngụm nước, lại đi lại trong thư phòng vài vòng. Tuổi còn trẻ, hắn chưa mắc chứng đau lưng mỏi gối, nhưng viết chữ nhiều e rằng sẽ bị viêm gân bao, như thế cũng không hay. Liễu Hạ vốn rất coi trọng sức khỏe, không có điều kiện thì hắn cũng nghĩ cách tạo điều kiện cho mình.
[viêm gân bao: bệnh do lặp lại động tác cổ tay quá mức]
Nghỉ ngơi chốc lát, hắn lại tiếp tục cầm bút. Tập thời văn này gồm đủ cả Tứ thư, Ngũ kinh, còn có cả sách luận, trong đó có những phần Liễu Hạ chưa học tới, xem như được sớm làm quen, coi như học trước.
Đến lúc khắc lậu [đồng hồ nước tính giờ] đã trôi qua thời khắc thường ngày hắn đi ngủ, Liễu Hạ mới chép xong phần nhiệm vụ hôm nay. Nhưng những bài văn trong thời văn tập đã in hằn rõ rệt trong trí nhớ hắn, ngay cả nhiệm vụ luyện chữ cũng coi như vượt mức hoàn thành. Tuy vậy, hắn vẫn chưa xem đến sách mình cần học. Do dự một lát, hắn lại nán thêm nửa canh giờ, mở tập chú giải trong tay ra đọc vài trang.
Sáng hôm sau, quả nhiên Liễu Hạ ngồi gà gật suốt. Uống xong bát cháo, đầu hắn suýt nữa gục xuống cả trong bát, khiến Kỷ nương tử lo lắng không thôi.
Liễu Hạ sắp phải đến học đường, Kỷ nương tử không nói nhiều, nhưng thấy hắn tối qua về muộn rồi lại chép sách, bà liền nhẹ nhàng khuyên nhủ: đọc sách không cần quá ép mình. Sau khi gả cho Liễu Tín, ngày ngày bà thấy chồng gắn bó với sách vở, tai nghe mắt thấy cũng biết được vài chữ, liền đưa ra mấy ví dụ về người đỗ đạt muộn để an ủi con. Chẳng hạn như Tằng Diễn năm 54 tuổi mới đỗ Trạng nguyên, lúc đỗ Cử nhân cũng đã 42 tuổi. Trong triều đại này, Trạng nguyên trẻ tuổi vốn hiếm, ngay như Hàn Ứng Long cũng đến 37 tuổi mới đỗ Trạng nguyên.
Liễu Hạ: “…”
Hắn nhận ra, trong mắt mẹ, hắn đã có thể đem so với Trạng nguyên rồi.
Nhưng hắn tuyệt chẳng muốn đem mình ra so với Hàn Ứng Long. Người ấy 37 tuổi đỗ Trạng nguyên, 38 tuổi liền yểu mệnh, trở thành một kỳ sự trong lịch sử Trạng nguyên triều Đại Minh.
Dù vậy, đây cũng là tình mẫu tử chân thành nhất. Trong lòng Kỷ nương tử, Liễu Hạ chính là giỏi giang nhất, không có Trạng nguyên nào có thể sánh được với con bà.
Hôm nay, Liễu Hạ về nhà sớm hơn hôm qua. Giữa trưa hắn đã chép được một số chữ, nên tối nay nhẹ nhõm hơn nhiều. Sau khi chép xong bài văn, chỉ cần ôn lại những điều thường học là đủ.
Thời tiết ngày một nóng, mỗi khi viết chữ, ngón tay hắn đổ mồ hôi dính cả vào cán bút. Mỗi bài văn chép xong, phải đổi thế cầm bút không ít lần. Viết đến khi nóng quá, hắn lại rửa tay hạ nhiệt, rồi mới tiếp tục.
Cứ thế, trong vòng bảy ngày, Liễu Hạ chép xong toàn bộ một tập thời văn, tổng cộng hơn hai vạn chữ, không sót một chữ nào. Mỗi khi chép xong một bài, hắn đều kiểm tra lại, đến cuối cùng lại so sánh cả bản chép với nguyên bản, quả nhiên một chữ cũng không sai.
Cảnh tướng công sau khi đối chiếu liền sảng khoái trả đủ tiền. Đáng tiếc lúc này ông không còn sách nào cần chép, thư điếm cũng chẳng thiếu người, công việc phụ này của Liễu Hạ đành phải tạm dừng.
Hắn không khỏi than thở: chín trăm văn này quả thật kiếm chẳng dễ dàng.
Thế nhưng, đi ngang bến tàu, trông thấy phu khuân vác gánh từng bao lương thực nặng trĩu lên thuyền, hắn lại cảm thấy: chín trăm văn này cũng còn khá dễ kiếm.
Mãi đến ngày hôm sau, khi đến học đường, Liễu Hạ mới mừng thầm vì tạm thời không phải chép sách nữa, bởi vì Tôn phu tử đã giao xuống nhiệm vụ nguyệt khảo rồi.
Nguyệt khảo: kỳ thi thử hằng tháng ở học đường, để kiểm tra tiến độ học tập và rèn luyện bút lực cho sĩ tử.
≧◔◡◔≦
------------------------------
Lời nhắn từ Toidoc:
Có những người như những cuốn tiểu thuyết kinh điển, càng đọc càng thấy hay, càng ở gần càng thấy trân trọng. Đừng vội vã, trang hay nhất thường nằm ở phía sau.
Toidoca.com lưu truyện bạn đang đọc tại 


-481703.jpg&w=640&q=75)



-532315.png&w=640&q=75)








-198627.png&w=640&q=75)




-481703.jpg&w=640&q=75)
-18792.png&w=640&q=75)


