Khám phá danh sách truyện full
Khám phá
Thể loại truyện full
Thể loại
Blog truyện
Blog truyện
Đăng truyện tại Toidoc
Hỗ trợ
Tài khoản cá nhân
Đăng nhập

Hàn Môn Chi Sĩ [ Khoa Cử ] Chương 13: Tân Xuân

Cài Đặt

Chương 13: Tân Xuân

Vài ngày trước năm mới, tại thôn Hạ Hà rơi một trận tuyết lớn, trời lạnh buốt đến mức nhiều người phải chịu cảnh rét căm căm.

Kỷ nương tử vẫn chuẩn bị đủ các món ăn truyền thống cho dịp Tết, nào là chưng bánh, bánh bao, và còn có ý định làm lễ cúng tổ tiên, thăm hỏi bạn bè thân quen.

Đây cũng là cái Tết đầu tiên Liễu Hạ đón ở triều Đại Minh.

Tuyết rơi trắng xoá, nhưng người qua lại ngoài chợ vẫn không ngớt. Dù nghèo túng đến đâu, vào những ngày này, nhà nào cũng mở hầu bao, mua ít bánh trái, điểm tâm làm quà cho trẻ nhỏ.

Liễu Hạ sớm đã qua cái tuổi con nít, Kỷ nương tử vẫn mua cho hắn ít bánh bánh cuộn thừng, rắc thêm mè rang thơm phức. Bánh vốn đã giòn thơm, thêm mè càng dậy mùi, khiến Liễu Hạ cũng không nhịn được ăn liền mấy cái.

Nói về chuyện ăn uống, tất nhiên Đại Minh chẳng thể sánh với đời sau. Ẩm thực ở Trấn Giang phủ vốn thiên về thanh đạm, hầu như chẳng có món nào đậm vị. Ớt thì chưa truyền vào Trung Quốc, còn hạt tiêu thì quý đến mức có thể dùng thay cho tiền lương, đương nhiên không phải thứ mà một nhà thường dân như Liễu gia có thể mua nổi.

Tuy vậy, vì Trấn Giang phủ gần kề Ứng Thiên phủ, thói quen ăn vịt rất phổ biến. Thực ra, Kỷ nương tử cũng học được thói quen này, bà chưng một con vịt trong nhà. Liễu Hạ ngồi trong phòng đọc sách, vẫn có thể ngửi thấy mùi thịt vịt thơm phức lan tỏa, khiến hắn không thể tập trung vào sách.

Thành thử, hôm ấy hắn chỉ đọc được một lát vào buổi sớm, còn lại thì toàn ngồi hóng ở bếp, chăm chăm nhìn Kỷ nương tử hấp bánh tổ, bánh bao.

Bánh tổ được hấp trong khung gỗ chia ô vuông. Kỷ nương tử lọc bột nếp thật kỹ, rồi cẩn thận cho vào khuôn gỗ. Bột nếp trắng mịn, được nén phẳng phiu vào trong, khiến Liễu Hạ chỉ muốn đưa tay ấn thử một cái cho thỏa cơn ngứa ngáy.

Ánh mắt nghiêm khắc của Kỷ nương tử lập tức ngăn hắn lại.

Đến khi bánh tổ được đem hấp, mùi thơm dậy lên khắp nhà. Mùi này khác hẳn mùi vịt, không nồng đậm bằng, nhưng lại khiến người ta chỉ muốn nếm ngay cái vị dẻo dai quyện răng ấy.

Liễu Hạ còn đang định hỏi mẹ xem trong nhà còn món gì nữa, thì bỗng nghe tiếng cổng sân vang lên. Hắn ra mở cửa, chỉ thấy một thằng bé đầu tròn, mặt tròn, đôi mắt sáng rỡ nhìn đầy mong chờ:

“Hạ ca! Đại bá nương!”

“Lễ ca nhi!”

Từ sau khi Liễu Tín qua đời, Lễ ca đã lâu không ghé qua nhà. Hôm nay chắc là ngửi thấy mùi thơm tỏa ra từ nhà nên mới gõ cửa tìm sang.

Nhị thúc, nhị thẩm tính tình keo kiệt, tính toán chi li, còn Lễ ca lại có phần ngây ngô, là một đứa trẻ rất dễ làm người ta quý mến. Trước đó, khi Liễu Hạ đi dạo trước cổng từng gặp nó, Lễ ca không kìm được mà khoe khoang rằng cha mẹ không cho nó tới đây, nhưng nó vẫn lén đến. Khi nói, mắt sáng rực lên, cứ như đang đợi được Liễu Hạ khen thưởng.

Liễu Hạ: “…”

Nói thế nào nhỉ? Cảm giác nếu tính cách của Lễ ca có thể trung hòa được với cha mẹ nó thì hẳn là chuyện tốt.

Liễu Hạ vốn không nghĩ đứa trẻ như Lễ ca sẽ sang chơi, nhưng Kỷ nương tử lại đã nghĩ tới. Trong nhà ngoài bánh cuộn thừng ra, còn chuẩn bị hạt dưa và kẹo mạch nha, đúng khẩu vị trẻ con như Lễ ca.

Nhị thẩm tuy thương con, nhưng luôn keo kiệt, chẳng bao giờ nỡ mua quà bánh cho Lễ ca. Ngược lại, dù Kỷ nương tử với nhị thẩm vốn chẳng hòa thuận nhưng mỗi lần Lễ ca sang, bà vẫn luôn dịu dàng quan tâm.

“Liễu Hạ, chúc mừng năm mới!”

“Chúc mừng năm mới.”

Liễu Hạ mở rộng cổng, thấy ngoài ngõ còn in đầy dấu chân. Tuyết sáng nay dày quá, từ đường nhỏ ngoài làng đi vào sân cũng phải giẫm tuyết mà tới, nhân tiện cậu lại quét thêm đoạn trước cửa cho sạch.

“Ngươi sao lại rảnh mà qua đây? Không phải nói năm nay ở thành à?” Liễu Hạ hỏi.

“Ta đi Cổ Động thôn bái phỏng Tôn phu tử, tiện đường ghé thăm ngươi một chuyến.” Kỷ Văn Tuyển lễ phép gọi Kỷ nương tử một tiếng “cô”, bởi theo vai vế ở Kỷ gia thôn, cha hắn với Kỷ nương tử ngang hàng một bậc.

Hắn mang theo một vò rượu hoàng tửu, thêm ít giấy bút:

“Ngươi mấy tháng rồi chưa ra ngoài? Đoán chừng giấy bút sắp dùng hết, ta đem đến cho ngươi đây.”

Liễu Hạ định vào nhà lấy bạc trả, nhưng Kỷ Văn Tuyển ngăn lại:

“Nhà ta không thiếu thứ này, toàn giấy bút mua từ mấy năm trước, để lâu không dùng sợ bị mọt gặm nát mất thôi.”

Kỷ Văn Tuyển chỉ cho Liễu Hạ xem mấy vết mọt gặm trên tờ giấy nhưng Liễu Hạ vẫn cảm thấy ngại ngùng. Suốt nửa năm qua, Kỷ Văn Tuyển đã biếu tặng không ít thứ, còn mình thì chẳng có gì đáp lại. Hắn từng nghĩ đến chuyện tặng vài cuốn sách nhưng Kỷ Văn Tuyển vừa nhìn thấy sách đã nhăn mặt, cứ bảo Liễu Hạ là “lấy oán báo ân”.

Lần này, hắn còn mang tới cả một phong thư của Tôn phu tử.

Tết Nguyên đán, Liễu Hạ không thể rảnh tay được, mọi việc cúng bái trong nhà đều do hắn lo. Hắn dự định buổi chiều sẽ nhờ tam thúc đi một chuyến tới Cổ Động thôn, thay mình gửi lễ vật sang cho thầy.

“Tôn phu tử dặn ngươi cứ thong thả suy nghĩ, không cần vội vàng quyết định.”

Liễu Hạ mở thư. Nội dung không nhiều, nhưng từng nét bút đều cứng cáp, phóng khoáng, chữ nào chữ nấy toát lên khí độ. Trong thư, Tôn phu tử nhiều lần nhắc nhở phải rèn chữ cho tốt, bản thân ông cũng giữ thói quen ấy, ngay cả thư từ thường ngày cũng không hề cẩu thả.

Thư viết rằng, ông khuyên Liễu Hạ nên dự thi vào tộc học của họ Đinh.

Mấy năm gần đây, nhà họ Đinh tuy không có thành tựu nổi bật trong khoa cử nhưng vào niên hiệu Thành Hóa, Chính Đức từng có hai anh em họ Đinh là Đinh Cơ và Đinh Toản cùng đỗ tiến sĩ. Cha của Đinh Cơ là Đinh Nguyên Cát, vốn nổi danh ở phủ Trấn Giang về học thuyết Kinh Dịch, được người đời tôn là Dịch Động tiên sinh, ngay cả danh sĩ Cận Quý cũng từng theo ông học hỏi.

Còn Đinh Toản thì ưa nghiên cứu y học. Sau khi đỗ tiến sĩ, ông vẫn quan tâm đến dân sinh, y thuật của ông cũng được truyền lại cho hậu thế, tiếng thơm trong quan trường rất tốt.

“Nếu vào tộc học họ Đinh, ngươi có thể lấy Kinh Dịch làm bản kinh. Năm xưa Giới Am công cũng từng lấy Dịch làm sở trường.” — Tôn phu tử viết trong thư.

So ra, họ Mao tuy có Mao San làm quan to, từng giữ chức Hữu tham chính tại Chiết Giang bố chính sứ ty, nhưng tiếng tăm lại chẳng mấy tốt đẹp. Năm Gia Tĩnh thứ 32, ông ta từng bị đánh giá “có tham nhũng” trong đợt khảo hạch.

Những điều khác, Tôn phu tử không viết rõ, chỉ hỏi thăm Liễu Hạ học hành ra sao, nói rằng mấy hôm nay ông đã nghiền ngẫm một số nghi vấn mà Liễu Hạ từng ghi lại, nay có thể giải đáp thêm đôi phần.

Trong thư không có một lời ân cần nhưng từng câu từng chữ lại chan chứa sự quan tâm.

Ngoài trời giá rét căm căm, vậy mà đọc thư, Liễu Hạ chỉ thấy lồng ngực như bừng lửa nóng.

Cảm giác được người ta lo lắng, quan tâm quả thật rất tốt. Bất kể là Kỷ nương tử, Tôn phu tử, hay Kỷ Văn Tuyển, tất cả đều đối đãi với hắn bằng tấm lòng chân thành nhất mà chẳng mong được báo đáp điều gì.

Buổi chiều, sau khi đã lo xong mọi việc trong nhà, Liễu Hạ cùng Kỷ nương tử dùng một bữa cơm tất niên đơn giản nhưng ấm cúng. Vì năm trước nhà có tang, theo tục lệ địa phương, hai mẹ con không tiện đến thăm họ hàng, cũng không thể đốt pháo, chỉ có thể yên tĩnh ở nhà đón năm mới.

Tuy vậy, đến đêm, hai mẹ con vẫn cùng đứng giữa sân, ngẩng đầu nhìn pháo hoa rực sáng nở bừng trên bầu trời đêm.

Một năm cũ, thế là đã trôi qua.

Đêm đó, Liễu Hạ như thường lệ ngồi đọc sách, luyện chữ. Đang đọc đến nửa chừng thì khát, hắn đứng dậy định ra lấy nước uống. Vừa vén rèm cửa, hắn chợt nghe thấy tiếng Kỷ nương tử khẽ khàng cầu nguyện.

Liễu Hạ vốn sợ quấy nhiễu giấc ngủ của mẹ, nên thường đi lại rất khẽ. Giờ phút này, hắn lặng đứng trong bóng tối, để mặc ánh sáng leo lét từ ngọn nến trong thư phòng hắt ra khe cửa sổ.

“... Nguyện cho con ta thân thể mạnh khỏe, bình an thuận lợi.”

Kỷ nương tử không cầu con trai thi cử đỗ đạt, cũng chẳng mong công danh tú tài, cử nhân hay chức vị cao sang. Bà chỉ mong đứa con duy nhất của mình khỏe mạnh, sống một đời bình an là đủ.

Liễu Hạ quay lại thư phòng, tiếp tục đọc sách thêm một lúc. Khi ra ngoài lần nữa thì không còn nghe thấy tiếng nguyện cầu kia nữa.

Hắn không khỏi nghĩ, nếu trên đời thực sự có thần linh, vậy thì chính mình cũng khấn nguyện xin cho Kỷ nương tử luôn được khỏe mạnh, bình an.

…..

Sau Tết Nguyên Tiêu, tin tức Đinh thị tộc học mở kỳ khảo tuyển đã lan khắp các ngõ lớn nhỏ trong phủ Trấn Giang.

Đinh thị tộc học chiêu sinh không phân biệt xuất thân của học trò, dù ở xã học, tư thục, hay ở nhà tự học, ai cũng có thể đến dự. Trong tộc học, phần lớn các môn đều do người trong Đinh tộc trực tiếp giảng dạy. Không chỉ gò bó ở Tứ thư, Ngũ kinh, ở đây còn có thầy chuyên dạy chiếu, cáo, biểu, phán cũng như sách vấn. Trong Ngũ kinh, họ Đinh nổi bật nhất ở Kinh Dịch, có nhiều bậc tinh thông, song đệ tử trong tộc học cũng không phải đều chuyên về Dịch, vẫn có người lấy Kinh Thi hay Thượng Thư làm bản kinh.

Chỉ có rất ít người chọn Kinh Lễ hoặc Kinh Xuân Thu làm bản kinh, đây cũng là vấn đề phổ biến trong toàn bộ khoa trường đại minh, hai kinh "Lễ" và "Xuân Thu" thậm chí còn được gọi là những kinh sách cô lập.

Vì đây mới chỉ là kỳ sơ khảo, Liễu Hạ không nhận bạc của Kỷ nương tử. Nếu thi đỗ, tất nhiên phải đóng học phí, tiền ăn ở, tiền sách vở; nhưng nếu thi trượt, mang nhiều bạc theo chỉ thêm vướng víu.

Đến địa điểm tuyển sinh của Đinh thị tộc học, Liễu Hạ thực sự bị dòng người chen chúc ngoài sân làm cho sững sờ.

Chỉ liếc sơ qua, hắn đã thấy riêng trong khoảng sân nhỏ này, số học trò đồng trang lứa e cũng hơn một trăm người.

Nghe mọi người xung quanh trò chuyện, Liễu Hạ mới hiểu vì sao Đinh thị tộc học lại được hoan nghênh đến thế.

Đinh thị là vọng tộc của Trấn Giang phủ, trong tộc từng có nhiều người thi đỗ tiến sĩ, cử nhân; ngay trong đám môn sinh của tộc học cũng đã có vài kẻ đỗ tú tài. Vì thế, bọn họ hiểu rõ phong cách ra đề của tri huyện Đan Đồ và tri phủ Trấn Giang. Trong tộc học, học trò vừa học Tứ thư Ngũ kinh, vừa luyện tập văn bát cổ, lại còn được nghiên cứu các đề thi những năm gần đây ở kỳ huyện thí, phủ thí Trấn Giang, cũng như hương thí của Nam Trực Lệ.

Nói cách khác, Đinh thị nắm giữ riêng một bộ bí quyết ôn thi.

Chỉ có điều, đến viện thí thì khó hơn. Bởi viện thí do quan đề học ngự sử trực tiếp ra đề. Quan đề học ngự sử thường thay đổi liên tục, lại do triều đình trực tiếp bổ nhiệm, chứ không phải do trong tỉnh chọn ra. Thế nên sĩ tử Nam Trực Lệ chỉ có thể chờ đến khi quan đề học nhậm chức, rồi mới cấp tốc tìm hiểu phong cách văn chương của ông ta, để viết ra được những bài phù hợp ý hướng.

Liễu Hạ cùng các học trò khác lần lượt đi lĩnh thẻ số. Khi lĩnh thẻ, phải khai rõ họ tên, quê quán và tình hình học tập. Bên tộc học họ Đinh cứ theo số thứ tự mà gọi, ai đến lượt thì vào thi.

Số thẻ của Liễu Hạ rơi vào hàng khá sau, nên cậu phải chờ khá lâu. Trong lúc chờ, bên ngoài có thể nghe thấy tiếng than vãn hoặc reo mừng của những kẻ đã thi xong. Các học trò khác muốn gặng hỏi, nhưng người vừa ra khỏi trường thi lại nhất loạt im bặt, không hé một lời.

Có kẻ nhỏ giọng thì thào:

“Nghe nói Đinh thị tộc học xưa nay vốn khó vào, năm ngoái chỉ thu có mười một môn sinh mà thôi.”

Người khác tiếp lời:

“Ở nơi trường thi này, ai ai cũng là đối thủ. Sao họ chịu tiết lộ đề cho bọn ta chứ?”

Lại có kẻ than thở:

“Năm ngoái ta đã thử một lần, năm nay lại không đỗ nữa, thì ta… ta…”

Có người chặn ngay:

“Ngươi thì sao?”

Người nọ nghiến răng đáp:

“Thì sang năm lại thử! Thề lấy lòng thành cảm động cả trời cao!”

Càng đợi lâu, không khí càng thêm bồn chồn, khiến ai nấy đều nóng nảy, tâm trí khó yên. Liễu Hạ đứng trong hàng, thấy thế chỉ đành nhắm mắt lại, lặng lẽ ôn nhớ những thiên văn chương đã đọc trong mấy ngày gần đây.

≧◔◡◔≦

------------------------------

Lời nhắn từ Toidoc:

Có những người như những cuốn tiểu thuyết kinh điển, càng đọc càng thấy hay, càng ở gần càng thấy trân trọng. Đừng vội vã, trang hay nhất thường nằm ở phía sau.

Toidoca.com lưu truyện bạn đang đọc tại Thư viện truyện bạn đã đọc