Cua mập chắc, đáng tiếc lại thiếu chút rượu. Nhưng Kỷ nương tử tuyệt đối không cho Liễu Hạ tuổi còn trẻ mà đã nhiễm thói ham rượu. Bà cắt nửa quả dưa hấu, lại nấu thêm một bát canh ngọt. Liễu Hạ mấy lần muốn giúp, song Kỷ nương tử chẳng cho cơ hội.
Liễu Hạ đành phải bỏ cuộc.
Trấn Giang phủ quả thật là nơi tốt, cách Dương Trừng hồ và Cố Thành hồ đều không xa, thủy thảo tươi tốt, sản vật phong phú. Liễu Hạ vốn không mê thịt, nhưng lại đặc biệt say mê tôm cua. Lúc này, hắn đang gặm con cua tuy không to lắm nhưng thịt rất thơm ngon.
Liễu Hạ ăn liền hai con cua, lại ăn một bát chè. Chè này nấu từ táo mật [một loại táo đỏ khô, vị ngọt thanh], nghe nói là loại táo mật từ huyện Lan Khê, Chiết Giang đưa đến Trấn Giang phủ, giá cả chẳng hề rẻ. Kỷ nương tử cắn răng mua cho Liễu Hạ một ít, thấy con trai ăn ngon miệng, bà cũng mỉm cười mãn nguyện.
“Nương, người cũng ăn đi.”
Liễu Hạ đẩy một bát chè đến trước mặt Kỷ nương tử, còn giúp bà bóc vỏ cua. Kỷ nương tử vốn không rành ăn cua, nhưng thấy con trai ăn ngon lành, lại liên tục khuyên mình nếm thử, nàng mới do dự ăn một miếng.
Vừa vào miệng đã thấy vị ngọt tươi, thịt và gạch cua thơm ngậy, Kỷ nương tử lập tức thích ngay.
Hai mẹ con chia nhau ăn một chiếc bánh, lại cùng ăn chè, cái lạnh nhè nhẹ buổi tối liền bị xua tan. Đêm Trung Thu còn phải tế tổ tiên, trước đó Kỷ nương tử có bàn với Liễu Nghĩa, muốn hai nhà cùng làm, nhưng đợi mãi bên Liễu Nghĩa cũng chẳng có tin tức, đành để một mình Liễu Hạ lo liệu.
Liễu Hạ đang tuổi lớn, thân hình không còn gầy yếu như năm trước, dáng đứng ngày càng giống Liễu Tín.
Ngày Liễu Tín mất, Kỷ nương tử từng oán trách ông Trời, tại sao lại dễ dàng cướp đi mạng sống phu quân của bà. Nhưng giờ nhìn Liễu Hạ mỗi ngày một trưởng thành, bà lại cảm thấy ông Trời cũng chẳng bạc đãi mình.
Trung Thu thuộc về “tam tiết lưỡng thọ” [ba ngày lễ lớn và hai dịp mừng thọ quan trọng], nên tất nhiên Liễu Hạ phải mang lễ tiết đến biếu Tôn phu tử. Bình thường Kỷ nương tử sống tiết kiệm nhưng lễ cho Tôn phu tử thì tuyệt đối không sơ sài: hai dải thịt, vài cân quả khô, lại thêm hai vò rượu một là Hoàng tửu, một là Tân Phong tửu phương Nam. Cả hai loại đều là đặc sản huyện Đan Dương.
Lý Bạch từng có thơ rằng: “Nam quốc Tân Phong tửu, Đông Sơn tiểu kĩ ca”, chính là nhắc đến loại rượu Đan Dương này
Tôn phu tử sống ở thôn Cổ Động, vốn là người bản địa, từ trẻ đã ở nơi này, phụng dưỡng mẫu thân cho đến khi bà mất cách đây hai năm.
Khi còn trẻ, Tôn phu tử một lòng chuyên tâm khoa cử, nhưng thi mãi không đỗ, tuổi tác lại lớn, tinh lực chẳng còn dồi dào, đành buông bỏ chí hướng làm cử nhân, an phận dạy học ở xã học. Theo lời Liễu Hạ nghe được, trong mấy thôn gần đó, Tôn phu tử là người dạy học cần cù và thanh bần nhất. Các phu tử khác thì hoặc qua loa đối phó, hoặc tham tiền thu nhiều, chứ ít có ai tận tâm dạy học như ông.
Rốt cuộc con người ai cũng có tính lười biếng, kiên trì được một tháng một năm thì không khó nhưng mấy chục năm như một thì vô cùng hiếm thấy.
Khi Liễu Hạ đến, cổng nhà Tôn phu tử đóng chặt. Đợi hắn gõ cửa, Tôn phu tử mới ra mở cửa. Thấy hắn xách giỏ tre trong tay, ông liền cau mày:
“Lần trước chẳng phải ta đã nói rồi sao? Nhà ngươi cũng khó khăn như ai, Trung Thu thì không cần phải đến nữa.”
Thế nhưng Liễu Hạ vẫn nhanh nhẹn lách người, chen vào nhà. Tôn phu tử bảo hắn mang đồ về, Liễu Hạ lại lấy ra một quyển Đại Đề Văn Phủ:
“Học sinh có chỗ muốn thỉnh giáo phu tử.”
Trước khi đi, Kỷ nương tử đã dặn kỹ, Liễu Hạ nhất định phải trao lễ vật. Dù sao Tôn phu tử không chỉ là thầy của riêng Liễu Hạ, mà cũng từng là thầy của Liễu Tín. Khi còn sống, Liễu Tín luôn ghi nhớ ân tình Tôn phu tử chiếu cố. Nay tuy người đã mất, Kỷ nương tử cũng không quên lời phu quân căn dặn.
Nhà Tôn phu tử chẳng khác gì những người dân quê bình thường, nghèo không đọc sách, phú không dạy học, đạo lý ấy xưa nay vốn thế. Lúc Tôn phu tử không để ý, Liễu Hạ liền chạy thẳng vào bếp. Ngay khi bước vào, mùi thịt hầm thơm ngào ngạt đã xộc đến, hẳn là sư nương đang ở trong.
Quà tặng ngày lễ phu tử chưa chắc chịu nhận nhưng đưa cho sư nương thì ông cũng chẳng tiện bắt Liễu Hạ mang về.
Tôn phu tử thu quà nhập học đều dùng để phụng dưỡng lão mẫu tiếp tế huynh đệ. Cuộc sống của chính ông thực ra chẳng khá giả, cũng không thường được ăn thịt. Ngay cả ruộng đất phân cho ông sau khi đỗ Tú tài, ông cũng đem ra giúp đỡ con cháu trong tộc đi học. Tôn phu tử bề ngoài nghiêm khắc nhưng bản chất lại chẳng phải người hà khắc.
…
Sau khi giải đáp thắc mắc cho Liễu Hạ, Tôn phu tử lấy ra bài thi mấy hôm trước của hắn:
“Nét chữ nàycủa ngươi mang đi dự huyện thí cũng đã đủ rồi.”
Nếu không phải tận mắt khảo sát khi Liễu Hạ mới nhập học vài tháng trước, Tôn phu tử cũng chẳng tin nổi. Chỉ trong thời gian ngắn, đứa nhỏ này đã rèn được chữ viết tinh tế đến vậy. Lúc đầu, ngòi bút còn rời rạc, vừa nhìn đã thấy lực tay không đủ. Thế mà nay, hiển nhiên Liễu Hạ đã dốc rất nhiều công phu. Ngay cả Liễu Tín năm ấy, ở cùng độ tuổi này, cũng chưa có được sự kiên định như vậy.
Ngoài ra, sự hiểu biết của Liễu Hạ đối với Tứ Thư [Luận Ngữ, Mạnh Tử, Đại Học, Trung Dung] cũng khiến Tôn phu tử kinh ngạc.
Đến hôm nay, Liễu Hạ đã đọc xong Tứ Thư, đối với ý nghĩa trong từng chữ nghĩa cũng có cách lĩnh hội vượt xa mong đợi của Tôn phu tử. Đặc biệt, đề mục hôm nay Liễu Hạ chọn trong Đại Đề Văn Phủ vốn đã không còn nằm trong phạm trù mà một học trò vỡ lòng nên học nữa.
Điều khiến Tôn phu tử kinh ngạc nhất lại chính là tấm lòng hiếu học của Liễu Hạ.
Ở xã học, phong khí học tập lỏng lẻo, Tôn phu tử đã hết sức chấn chỉnh mà hiệu quả chẳng được bao nhiêu. Bởi lẽ trong đám học trò, số có thể tiến học chẳng quá một hai phần mười. Tuy ai cũng thuộc làu Thần đồng thi nhưng với những đứa trẻ nông phu thì chuyện một ngày kia bước vào điện ngọc của Thiên tử chẳng khác nào giấc mộng viển vông. Đừng nói đến Tiến sĩ hay Cử nhân, ngay cả đỗ Tú tài với họ cũng đã quá xa vời.
Liễu Hạ thì lại khác.
Ngày hè nóng bức khó chịu, hắn vẫn đọc sách, luyện chữ. Khi bọn học trò khác mải chơi đùa, hắn vẫn đọc sách, luyện chữ. Tôn phu tử không hiểu vì sao hắn có thể kiên định đến vậy. Nhưng đọc sách vốn cần chuyên tâm, mà Liễu Hạ lại có trí nhớ xuất chúng: sách đọc hai lượt đã có thể thuộc lòng, đọc thêm hai lượt nữa thì có thể thấu hiểu ý nghĩa.
Tôn phu tử thường cảm thán cùng lão thê rằng, nếu cho hắn thêm thời gian, công danh tất sẽ vượt xa cả Liễu Tín.
Học hành chăm chỉ không khó, cái khó là kiên trì ngày này qua ngày khác. Khó hơn nữa là vừa có thiên phú đọc sách, vừa có nghị lực. Liễu Hạ lại hội đủ cả hai.
Tôn phu tử uống một ngụm trà, sư nương bưng lên một đĩa bánh tô. Ông ra hiệu cho Liễu Hạ ăn vài cái rồi nói:
“Sang năm đầu xuân, ngươi cần phải tìm một vị nghiệp sư.”
Tôn phu tử không muốn chậm trễ thiên phú của Liễu Hạ.
“Nhưng thưa phu tử, học trò mới chỉ vừa nhập môn, biết tìm đâu một vị nghiệp sư bây giờ?”
Ở huyện Đan Đồ vốn có một tòa Thanh Phong thư viện, không phân biệt Nho đồng hay Tú tài, ai cũng có thể nhập học. Thế nhưng hiện nay Thanh Phong thư viện đã sáp nhập vào Huyện học, mà Liễu Hạ chưa phải Tú tài, tất nhiên không có tư cách vào học trong đó.
“Ngươi có biết hai gia tộc Đinh thị và Mao thị ở Trấn Giang phủ không?”
Thấy Liễu Hạ lắc đầu, Tôn phu tử cũng không lấy làm lạ. Luận về “nhân kiệt địa linh” [người tài, đất tốt], Trấn Giang phủ sao bì được với Tô Châu phủ hay Tùng Giang phủ. Tùng Giang phủ thì khỏi phải nói, chỉ riêng huyện Hoa Đình đã có số tiến sĩ đứng đầu toàn bộ Nam Trực Lệ. Vị Thứ phụ đương nhiệm là Từ Giai cũng chính là người huyện Hoa Đình, Tùng Giang phủ; Trạng nguyên Tiền Phúc niên hiệu Hoằng Trị thứ ba cũng xuất thân từ đây. Tiền Phúc tuy thành tựu quan trường không lớn, nhưng có một bài thơ truyền tụng đến nay: “Ngày mai rồi lại ngày mai, ngày mai sao mà nhiều thế.”
Từ khi lập quốc đến nay, Minh triều, riêng Tô Châu phủ đã sản sinh bảy vị Trạng nguyên. Từ Thi Phan đời Anh Tông đến Thân Thời Hành đời Thế Tông. Trong số đó có Cố Đỉnh Thần và Thân Thời Hành đều từng làm đến Nội các Thủ phụ. Dù Cố Đỉnh Thần nhờ viết Thanh từ [loại văn cầu phúc, ca tụng] mới lên được tể tướng nhưng chức tể tướng đâu phải người nào cũng có thể làm được.
Trong hàng tiến sĩ Trấn Giang phủ, nổi danh nhất phải kể đến Cận Quý. Nhưng như Tôn phu tử đã nói, trong thành Trấn Giang, họ Đinh ở Kinh Giang và họ Mao ở Tào Hạng, Kinh Khẩu, mới là hai gia tộc vang dội nhất.
“Họ Đinh, họ Mao đều có tộc học, học tử ngoại tộc cũng có thể vào học.” - Tôn phu tử giải thích - “Trong thành tuy có thư viện nhưng nhân sự tạp nhạp, vẫn chẳng bằng tộc học hai nhà Đinh, Mao.”
Nếu so trong hàng khoa cử Minh triều thì họ Đinh, họ Mao chẳng đáng kể gì. Thí dụ như họ Lâm ở vùng Mân Trung [Phúc Kiến]: bảy khoa có tám tiến sĩ, ba đời có năm thượng thư, cả Minh triều chỉ có một nhà như thế. Đó đúng là “học bá trong các học bá”. So ra thì họ Đinh, họ Mao tự nhiên không bằng.
Song, xét trong đất Trấn Giang, thành tích khoa cử của họ Đinh, họ Mao đã rất hiển hách. Họ Đinh vốn đã phát đạt từ thời Tống, đến Minh truyền được mười ba đời. Trong đó, Đinh Cơ và Đinh Toản lần lượt đỗ Tiến sĩ vào niên hiệu Thành Hóa và Chánh Đức. Nhưng sang niên hiệu Gia Tĩnh thì không còn ai đỗ Tiến sĩ nữa. Họ Mao cũng từng có người làm quan từ đời Tống. Đến Minh, niên hiệu Gia Tĩnh, Mao Giám làm Tri huyện An Định, Thiểm Tây; Mao Bàn đỗ Tiến sĩ năm Gia Tĩnh thứ mười một. Toàn bộ gia tộc hiện một mực hưng thịnh.
Liễu Hạ thì lại biết một nhân vật họ Mao khác: chính là chuyên gia nghiên cứu cầu cống nổi tiếng Mao Dĩ Thăng. Về sau, Trấn Giang còn có một con đường mang tên Mao Dĩ Thăng để tưởng niệm vị chuyên gia này.
Theo ý Tôn phu tử, ông khuyên Liễu Hạ nên đến tộc học hai nhà Đinh, Mao ký danh theo học.
“Nếu gặp được một vị minh sư, học vấn của ngươi ắt sẽ tiến xa.” - Tôn phu tử nói - “Qua Trung Thu này, còn chưa đầy nửa năm nữa là đến kỳ chiêu sinh của tộc học hai nhà. Trong nửa năm ấy, ngươi ở nhà hãy chuyên tâm đọc Tứ Thư, lại nghiên cứu thêm Ngũ Kinh, chiếu cáo, biểu phán. Xã học thì không cần đến nữa. Mỗi ngày rằm, ngươi cứ tới đây một chuyến, có chỗ nào nghi nan thì hỏi ta, hoặc tìm danh sư trong phủ cũng được.”
“Học trò đã rõ.”
Tôn phu tử đã chỉ cho Liễu Hạ một con đường thuận lợi. Ngoài ra, ông còn cho hắn một bài khảo thí của Thông Tế xã học để làm bằng chứng Liễu Hạ là học trò ưu tú nhất. Nhưng việc hắn có thể trúng tuyển tộc học hai nhà Đinh, Mao hay không, vẫn phải dựa vào chính bản lĩnh của mình.
Liễu Hạ nghe lời Tôn phu tử chỉ dạy, tất nhiên quyết định an tâm về nhà đọc sách. Thói quen học tập của hắn đã thành nếp, dù ở xã học hay ở nhà đều nghiêm ngặt theo thời khóa biểu. Như Tôn phu tử nói, ở xã học chẳng qua cũng chỉ học Thiên tự văn, Ấu học Quỳnh Lâm những sách nhập môn cho trẻ nhỏ học thêm cũng chẳng ích gì, trái lại còn phí mất thời giờ quý báu.
Khi Liễu Hạ trở về nhà, Tôn phu tử đã nhận quà lễ của hắn nhưng lại tặng cho ít giấy bút. Ông và sư nương từng có một người con trai, song mất sớm khi mới mười một, mười hai tuổi. Nay ông chỉ bảo Liễu Hạ từng bước, trong lòng không khỏi nghĩ nếu con trai độc nhất của mình còn sống, năm ấy hẳn ông cũng sẽ dốc hết tâm sức tìm thầy cho hắn như thế này.
≧◔◡◔≦
------------------------------
Lời nhắn từ Toidoc:
Có những người như những cuốn tiểu thuyết kinh điển, càng đọc càng thấy hay, càng ở gần càng thấy trân trọng. Đừng vội vã, trang hay nhất thường nằm ở phía sau.
Toidoca.com lưu truyện bạn đang đọc tại 


-481703.jpg&w=640&q=75)



-532315.png&w=640&q=75)








-198627.png&w=640&q=75)




-481703.jpg&w=640&q=75)
-18792.png&w=640&q=75)


