Dịch giả: ❣️❣️ Lãnh Nguyệt Hoa Sương ❣️❣️
Trình Ngọc Mai từng nói, Hà Trạch Lan nửa đời người miệng lưỡi trơn tru, vậy mà giờ đây thật sự không thốt nên lời.
Bà dám chắc, nếu đại ca mình còn sống, thì có khi cũng chẳng nỡ đưa cho Trình Phân một khoản hồi môn lớn như vậy. Thương con gái, nói cho hay thì là miệng dỗ dành vài câu, chứ trong lòng vẫn không thoát khỏi cái tư tưởng trọng nam khinh nữ.
Nếu không, thì lúc Trình Hoa bị sốt cao đến mức nói ngọng, dù bác sĩ ở viện vệ sinh đã khẳng định đứa nhỏ không bị thiểu năng, đại ca vẫn cứ cho là thằng con này “phế rồi”.
Nếu không phải nghĩ như thế, thì đã chẳng để Hà Trạch Lan mang thai thêm một lần nữa.
Chỉ tiếc, cái thai đó lại vẫn là con gái.
Năm đó để Hà Trạch Lan sinh cho bằng được một đứa con trai, bà với mẹ ruột đã đi bao nhiêu nơi cầu thuốc cầu tự. Nếu không phải được đại ca gật đầu, họ đâu đến mức tốn công tốn sức như vậy?
Thế mà Trình Phân vẫn nghĩ đại ca đối với mình rất tốt.
Tốt thì đúng là có tốt.
Dù sao con trai lớn đã hỏng, con trai nhỏ thì chưa kịp ra đời đã không còn. Không nuôi con gái, về sau ai lo cho ông tuổi già?
Nếu sinh ra được con trai, còn ai quan tâm đến Trình Phân?
Ngay cả chính mình, Trình Ngọc Mai cũng phải thừa nhận — nếu đại ca chưa mất sớm, không chỉ Trình Phân, mà cả ngày tháng của Hà Trạch Lan cũng chưa chắc đã êm đềm như bây giờ.
Vì muốn sinh cho bằng được một đứa con trai bình thường, mà số không may thì có khi phải sinh tới mấy lần. Như cái hộ kia ở đại tạp viện, sinh đến bảy đứa con gái mà vẫn chưa ngưng tay.
Nếu thật sự có thêm một đứa em trai Trình Phân, đừng nói là có suất đi làm, có khi vì chuyện cưới vợ và tìm việc cho em trai, mà cô sẽ bị “bán” thẳng ra ngoài với khoản sính lễ lớn. Nhà họ Trình đâu phải chưa từng làm chuyện đó. Đại tỷ của bà không phải đã bị “gả bán” vô một vùng núi sâu hút mắt rồi đó sao?
Làm sao có chuyện như bây giờ, còn được cho một trăm đồng làm của hồi môn?
Chất nữ này thật đúng là đang sống trong phúc mà không biết quý, có người mẹ như vậy, cha kế như vậy, thế mà còn bày ra vẻ tủi thân như ai ăn hiếp mình. Làm đến mức bà ta cũng không còn hơi sức đâu mà trách móc, chỉ đành mở miệng dỗ dành:
“Đừng khóc nữa. Dương Lệ dắt em con ra ngoài đi dạo một vòng cho khuây khỏa, đi mấy vòng là tâm trạng cũng khá hơn thôi.”
Chứ cứ ngồi nhà khóc mãi cũng đến mệt người.
Cái tiện nhân Hà Trạch Lan số đúng là đỏ, lại tìm được một người đàn ông sẵn lòng bỏ ra từng ấy tiền của hồi môn cho con gái riêng của vợ. Không biết là thật lòng hay giả bộ.
Nhưng thật ra, Giang Trạm Sinh là thật lòng. Trăm phần trăm thật.
Số tiền này đâu phải một mình ông để dành. Cả ông với vợ đều có lương, thu nhập cũng tương đương nhau. Vợ ông có ba đứa con thì ông cũng đâu khác gì, ba đứa là ba đứa, phân ra rạch ròi.
Đừng thấy lần này đưa ra ba trăm đồng, hai trăm là cho con riêng của vợ, mà nghĩ ông thiên vị. Vợ chồng họ đã bàn kỹ, ba đứa con còn lại cũng nhất định không để thiệt.
Làm cha mẹ, họ không có bản lĩnh cho con cái điều tốt nhất, thì ít nhất phải cố cho công bằng.
Sáu đứa con, cố gắng không thiên lệch. Không ai được nhiều hơn một đồng, cũng không ai được thiếu một xu.
Dù sao thì Giang Trạm Sinh cũng biết rõ, cái “công bằng” này chẳng thể làm ai cũng vừa lòng. Nhưng ngoài cách này, họ chẳng còn lựa chọn nào khác.
Không muốn nói thêm chuyện này nữa, ăn cơm xong, ông liền bảo:
“Trong vườn chắc quýt có trái rồi, mai tụi con về quê hái ít đem về.”
Quê ông có ba cây quýt trồng sau nhà, thấp, cành lùn, mỗi năm cũng chỉ ra được vài chục trái.
Dù mỗi năm ông đều gửi tiền hiếu kính, cha mẹ có bệnh ông cũng sẵn lòng mua thuốc, nhưng quan hệ thì cũng chẳng gọi là thân thiết. Hồi nhỏ chịu nhiều thiệt thòi vì cha mẹ thiên vị, nên lớn lên ông cố gắng sống sao cho công bằng, cũng là để con cái không phải chịu cảnh như mình.
Nếu không cho ba đứa nhỏ về quê, thì khéo mấy trái quýt đó cũng chẳng đến lượt ông đụng tới.
Nhưng hiếu kính là ông đưa, thuốc men cũng ông lo, mùa vụ cũng gọi con về phụ.
Vậy tại sao quýt nhà trồng mà không được ăn?
Nhà không chủ động cho thì ông sẽ kêu con đi hái. Phần của mình, dù gì cũng không thể để cho đại ca hưởng không.
Quýt ra trái, đội sản xuất chia lương thực, cuối năm giết heo, thậm chí chia phần trăm đất trồng rau… Tới mùa là phải gọi con cái về một chuyến, dù chỉ là để hái một bó hành.
Dù gì thì nhà ông cũng gần đội sản xuất, đi bộ chưa tới hai tiếng, sáng đi chiều về là đủ một sọt.
“Dạ, mai con đi.” – Giang Đông Dương gật đầu cái rụp. Chỉ cần không phải về làm đồng, thì cậu lúc nào cũng sẵn sàng đi quê. Mỗi lần đi đều có đồ mang về, chưa bao giờ tay không.
Quýt quê có hơi chua với sượng, nhưng có còn hơn không.
“Mai không được rồi.” – Giang Tiểu Nga lắc đầu. Thật ra cô cũng rất thích về quê.
Đội sản xuất gần một ngọn núi lớn, dưới núi còn có một cái đập nhỏ, hôm nào may mắn có khi mò được chút cá.
Tiếc là mai cô có chuyện quan trọng, không đi được.
“Mai không phải nghỉ à?” – Giang Trạm Sinh thắc mắc. Ông cố tình chọn đúng ngày nghỉ, vì ngày kia hai đứa phải đi học. Nếu ở quê có ai giữ lại làm việc, cũng tiện có cớ từ chối.
“Mai công xã Cung Trang mời thầy Lư về kiểm tra máy móc nông nghiệp, thầy nói sẽ đưa tụi con đi hiện trường thực hành.”
Giang Trạm Sinh hơi cau mày, mở miệng định nói gì đó rồi lại thôi.
Nghe vậy, Giang Tiểu Nga bật cười, giọng có phần châm chọc:
“Ba à, ba tư tưởng tụt hậu quá rồi. Cái khẩu hiệu ‘phụ nữ có thể chống nửa bầu trời’ vẫn còn dán đầy trên tường đấy, mỗi ngày ba đi qua chẳng lẽ không nhìn thấy sao?”
Mấy câu như vậy, đời trước cô đã nghe qua chẳng ít. Ngay cả lúc ấy là thế kỷ 21, cha mẹ cô vẫn cảm thấy con gái mà đi làm trong ngành này thì đúng là… không ra thể thống gì.
Không đứng đắn, cũng chẳng có tiền đồ.
Nhưng có những chuyện, không phải nghe người khác nói thế nào, mà là nhìn xem mình làm ra sao.
Giang Trạm Sinh bị nghẹn, trừng mắt nhìn cô:
“Ở nhà mà cũng nói chuyện kiểu đó à, đừng có đem mấy câu trích dẫn đó ra áp chế ba.”
“Tôi lại thấy rất hay.” Hà Trạch Lan vừa nói vừa bỏ mấy tờ tiền lẻ vào hộp sắt cất kỹ, “Xưởng chỗ tôi chị Chu còn định cho con trai học cùng trường với Tiểu Nga kìa. Chị ấy nói học được kỹ thuật này sau này dễ kiếm việc hơn.”
Bà còn chưa kể hết.
Lúc ấy, chị Chu còn nói bản thân tiếc lắm, tiếc là con trai sinh không đúng thời điểm. Bây giờ sinh viên đăng ký còn chưa nhiều, hai năm nữa cạnh tranh tăng lên, cơ hội càng thấp. Còn hiện tại, chỗ làm trong trường vẫn còn trống kha khá, khả năng được phân công cao hơn hẳn.
Bà với chị Chu đâu thân thiết gì, người ta tự dưng kéo lại chuyện trò, cũng chẳng vì lý do gì ngoài chuyện nửa năm trước Giang Tiểu Nga chuyển trường. Chị Chu còn khen tới tấp, bảo rằng sau này Tiểu Nga tốt nghiệp rất có khả năng được phân công việc làm, chí ít còn hơn khối ngành khác.
Trình Phân cũng học trung cấp xong rồi, học ngành may, nhưng gần hai năm rồi vẫn chưa có tin tức gì. Mà sinh viên tốt nghiệp cứ ngày một nhiều, đến lúc đó thì đến cả một chỗ đứng cũng không chen được.
Nghe xong, Giang Trạm Sinh chỉ lắc đầu:
“Cái đó không giống.”
Giang Tiểu Nga cũng chẳng buồn hỏi ông chỗ nào không giống, bởi có hỏi cũng chẳng nghe được điều mình muốn. Cô coi như gió thổi bên tai, thu dọn chén đũa xong thì trở về phòng.
Giang Trạm Sinh ngồi lại có hơi bực, thấy con gái ngày càng bướng, đến mức ông cũng khó kiểm soát được.
Nhưng thật ra, ông cũng không phải người thích ép buộc. Quản quá chặt, đè ép mất tính cách con người, cả đời này cũng chẳng khá lên nổi.
Chợt như sực nhớ ra điều gì, ông quay sang hỏi người bên cạnh:
“Cái công xã Cung Trang nghe quen tai quá. Không phải hồi trước ông nội mấy đứa đem thóc đi Cung Trang thoát hạt đấy à?”
Mấy năm trước toàn qua đội bên cạnh mượn người giúp việc. Vậy mà năm nay lại cử người trong nhà về hỗ trợ, nói là muốn chở thóc về tận công xã để tuốt.
Quãng đường đó cũng chẳng gần, ba mẹ sợ làm cực đại ca nên sai mấy đứa nhỏ đi thay. Ông thì kiếm cớ không đi, rốt cuộc là để mấy đứa nhỏ làm trò giả vờ giả vịt.
“Bên đó lắp một cái máy tuốt hạt tự động luôn.” Nhắc tới, Giang Đông Dương lập tức sáng mắt, “Cái máy đó hay lắm, đổ thóc vô là tự tuốt, không cần đụng tay vào luôn.”
Hồi đó cậu qua đó chủ yếu là xem náo nhiệt chứ có giúp được gì, đến mức ông nội tức gần dậm chân.
Nhưng đúng là vui thật. Đổ thóc lên phần miệng máy, chốc lát sau bên dưới đã ào ào tuôn ra hạt kê. Không chỉ có lúa, cả bắp với lúa mì cũng tuốt được, nhanh và khỏe hơn hẳn cái máy đạp chân hồi trước.
Chỉ cần nghĩ đến cái máy đạp chân năm xưa là chân cậu lại tê tái.
Khi còn nhỏ, chẳng biết gì, ông nội kêu làm là làm. Dẫm bàn đạp vài tiếng đồng hồ, chân đau ê ẩm mấy ngày mới đỡ.
Nghe vậy, Giang Trạm Sinh ngạc nhiên:
“Tự động? Cái đó hiếm thấy thật.”
Phải nói là hiếm lắm chứ!
Công xã Cung Trang chạy vạy hai năm trời, bỏ ra bao nhiêu nhân tình mới rước được cái máy này về. Một chiếc máy tuốt hạt chạy điện cỡ lớn, đa năng.
Muốn dùng điện phải kéo dây riêng, còn phải làm thêm cả gian nhà để đặt cái máy. Cạnh đó dựng luôn một cái giá để đổ thóc cho tiện.
Chỉ cần đổ lên, không cần chạm tay vào gì nữa, bên dưới cứ thế mà tuôn hạt ra. Dùng bao ure hứng là xong.
Giải phóng hoàn toàn tay chân!
Tốc độ còn gấp đôi mấy cái máy cũ kỹ trước đây. Vì vậy mà sau mỗi vụ mùa, tin lan ra khắp nơi, ai cũng kéo đến mượn.
Tất nhiên không ai cho không. Phí tuốt hạt cũng ngang với máy đạp chân, nhưng nhanh và sạch hơn nhiều. Suốt mùa thu hoạch, cái máy hầu như chẳng được nghỉ.
Ngay cả sau cao điểm vẫn có người mang lúa tới, vì thế công xã còn chủ động mời thợ kỹ thuật về kiểm tra định kỳ, tránh để hỏng nặng.
“Mấy cái thông báo treo lên chưa? Sáng mai nghỉ nhận đơn, có thầy cô trong trường tới kiểm tra máy. Ai cần thì dùng lại mấy máy cũ giùm.”
“Treo rồi treo rồi, thông báo phát đi từ hôm qua.” Vương Cương vuốt tay lên lớp sắt nóng hổi của máy, tiếc rẻ không thôi: “Máy này đúng là công thần, cũng đến lúc được nghỉ rồi.”
“Ừ.” Phạm Tứ liếc ra ngoài, thấy chỉ còn hai người đang xếp hàng, nói: “Đợi họ làm xong thì cúp điện luôn, tôi có chút việc, về trước đây.”
“Cứ về đi, chỗ này có tôi trông.”
Thóc gạo mỗi hộ chở đến cũng không nhiều, chỉ khoảng hai mươi phút là xong.
Đến khi hộ cuối cùng vác bao ure rời đi, Vương Cương chuẩn bị bước tới rút điện thì có tiếng gọi vang lên:
“Khoan đã! Vương cán sự, khoan đã!!”
Vương Cương đang cầm phích nước vừa mới rút đầu cắm, ngẩng đầu đã thấy một ông lão hớt hải đẩy xe chạy vào, vừa thở vừa nói như than:
“Đại gia ơi, giờ này là sắp tan ca hết rồi, sao giờ bác mới tới?”
“Ờ… ờ trong nhà có chút việc đột xuất nên tôi tới trễ, Vương can sự coi giùm tôi một chút…” – ông lão bối rối, tay xoa liên tục, dáng vẻ vừa lo lắng vừa sợ bị mắng.
“Được được, tôi mở điện rồi khởi động máy trước. Lát nữa máy chạy lên bác cứ đổ lương thực vô thôi.” – Vương Cương nói rồi xoay người cắm điện, vòng ra sau máy tuốt lúa, ấn nút khởi động.
“Ùng ùng” hai tiếng vang lên, máy bắt đầu chạy.
Vương Cương vừa mới đứng thẳng lưng lên thì bất thình lình trợn tròn mắt, mặt cắt không còn giọt máu, hét lớn:
“Ê ê ê! Bao phân urê! Bao phân urê không được đổ vô đó đâu nha!!”
Người đàn ông đứng trên bệ vốn đang tay không, bị một tiếng hô đó làm cho hoảng loạn, lắp bắp:
“Tôi… tôi sơ ý, lỡ tay… giờ, giờ làm sao… Vương can sự, tôi có cần chui vô lấy ra không?”
Nhìn vẻ mặt đầy nếp nhăn của ông lão, lại thêm cái dáng bất lực như đứa trẻ đứng chôn chân tại chỗ, Vương Cương cũng chẳng dám mắng nặng, sợ ông lại nổi khùng nhảy luôn vào máy thì nguy. Cậu vội vàng xua tay:
“Không sao, không sao, bác xuống trước đi, bác xuống trước đã!”
Không sao ư?
Liệu có thật là không sao không?
Bắp còn tuốt được, một bao phân urê chắc cũng không… Không xong rồi!
Thấy trong ống đổ lương thực bắt đầu bốc khói đen, chân Vương Cương mềm nhũn…
Xong rồi.
Phen này thật sự xong rồi.
≧◔◡◔≦
------------------------------
Lời nhắn từ Toidoc:
Có những người như những cuốn tiểu thuyết kinh điển, càng đọc càng thấy hay, càng ở gần càng thấy trân trọng. Đừng vội vã, trang hay nhất thường nằm ở phía sau.
Toidoca.com lưu truyện bạn đang đọc tại 


-532315.png&w=640&q=75)















-481703.jpg&w=640&q=75)
