Ở nhà, Liễu Hạ đã đọc xong hai mươi thiên Luận Ngữ. Mấy bản chú giải Luận Ngữ do Liễu Tín cất giữ, hắn cũng đã nghiền ngẫm qua vài lần. Dù sao thì ngoài việc đọc sách, ở nhà hắn cũng chẳng có việc gì khác để làm. Những nội dung trong sách thoạt nhìn thì khô khan, nhưng một khi thật sự nhập tâm, lại khiến Liễu Hạ có được một cảm giác phong phú, có nội hàm.
Thiên Vi Chính giảng về tư tưởng “lấy đức để trị quốc” của Khổng Tử.
Liễu Hạ lấy một tờ giấy tre, mài mực, thần sắc nghiêm túc, cả người lập tức lộ ra khí chất tĩnh lặng.
Trong học đường, sự khảo hạch của Tôn phu tử khiến vang lên một trận ai oán. Lại có kẻ thì thầm với nhau, truy vấn câu tiếp theo là gì. Dĩ nhiên trong học đường cũng có đồng học hoàn thành bài tập khá tốt, thần thái những người này tự nhiên khác hẳn.
Liễu Hạ mặc kệ xung quanh, chép từ câu đầu trong thiên Vi Chính:
“Vi chính dĩ đức, thí như Bắc Thần [dùng đức để trị chính, ví như sao Bắc Đẩu]” cho đến câu cuối: “Kiến nghĩa bất vi, vô dũng dã [thấy điều nghĩa mà không làm, ấy là không có dũng khí]”, không sót một chữ.
Khác với kiếp trước lúc làm bài tập chữ viết qua loa, ở kiếp này, bất kể viết gì, Liễu Hạ cũng giữ tâm thái luyện chữ mà viết. Bởi vậy, tuy tốc độ có chậm, nhưng hắn lại có thể nhìn thấy sự tiến bộ trong nét bút của chính mình.
Do đó, khi thời hạn Tôn phu tử đặt ra đã qua quá nửa, trong lớp chỉ còn Liễu Hạ và một đồng học chín tuổi khác là chưa nộp bài.
Ánh mắt của những đồng học khác nhìn về phía Liễu Hạ đều trở nên kỳ lạ.
“Liễu Hạ này thực sự là con trai của Tú tài công sao?”
“Ngươi không nghe phu tử nói à? Đến giờ hắn mới chỉ đọc Luận Ngữ và Đại Học, Mạnh Tử còn chưa từng đọc qua.”
“Chẳng lẽ Luận Ngữ mà phu tử khảo hạch hôm nay, hắn cũng chưa thuộc lòng?”
Nếu không, thật khó giải thích tại sao lâu đến vậy mà Liễu Hạ vẫn chưa nộp bài.
Không chỉ đồng học nghĩ thế, sắc mặt của Tôn phu tử cũng có phần khó coi. Nếu như Liễu Hạ chưa từng học Luận Ngữ, vậy thì chỉ có thể nói hắn việc học không tinh. Nhưng nếu Liễu Hạ dám lừa gạt ông, thì đó lại là vấn đề về phẩm đức. Đối với người đọc sách, đây chính là đại kỵ.
May thay, Liễu Hạ không để Tôn phu tử phải chờ lâu thêm. Khi hắn tiến lên nộp bài, Tôn phu tử đã khảo hạch xong các học trò khác. Lúc này, ông trải tấm giấy tre ra, thấy toàn bộ hai mươi bốn chương thiên Vi Chính đều được chép lại đầy đủ, không sót một chữ. Chữ viết tuy không thể nói là hoa lệ tinh mỹ, nhưng từng câu từng chữ đều chỉnh tề, không hề cẩu thả.
Lông mày Tôn phu tử khẽ giãn ra. Ông lập tức hỏi Liễu Hạ:
“Đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thả cách, hà giải?”
[Dùng đức dẫn dắt, dùng lễ để chỉnh tề, dân có biết hổ thẹn thì mới biết sửa mình, ý ngươi hiểu thế nào?]
Liễu Hạ đáp:
“Lấy đức dẫn dắt dân, dùng lễ cảm hóa người, khi ấy dân chúng mới có tâm biết liêm sỉ, đồng thời có thể tự sửa những điều sai trái.”
Tôn phu tử hỏi câu ấy, thực ra vốn là một câu so sánh trong thiên Vi Chính. Câu trước là: “Đạo chi dĩ chính, tề chi dĩ hình, dân miễn nhi vô sỉ” [Dùng chính lệnh và hình phạt để quản dân, dân chỉ nghĩ làm sao để tránh tội, nhưng lại không biết hổ thẹn].
Đặt cùng với câu sau: “Đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ” [Dùng đạo đức và lễ nghi để cảm hóa dân, dân có lòng biết hổ thẹn, từ đó mới tự sửa mình], thì ý nghĩa càng dễ hiểu hơn.
“Thị kỳ sở dĩ, quan kỳ sở do, sát kỳ sở an, hà ý? [Xem điều hắn làm, xét cái hắn theo, quan sát chỗ hắn yên ổn, thì sẽ hiểu được con người ấy thế nào. Ý ngươi hiểu ra sao?]”
Tôn phu tử lại hỏi Liễu Hạ thêm hai câu. Liễu Hạ tuy nói không nhanh nhưng có thể giải thích cặn kẽ ý nghĩa bài văn, lại còn dẫn ra những câu ở thiên khác của Luận Ngữ để đối chiếu. Hắn biết vận dụng từ một suy ra hai, thái độ hết sức nghiêm cẩn.
Liễu Hạ mang bài chép nộp đi, lại cầm bài trở về, mà thước gỗ trong tay Tôn phu tử vẫn chưa phải dùng đến. Ở trong Thông Tế xã học, đây đã là chuyện khiến người khác phải chú ý.
Liễu Hạ vừa trở lại chỗ ngồi, bên cạnh đã có một học đồng mập mạp ghé sang:
“Liễu Hạ, ta là Kỷ Văn Tuyển. Ngoại công ngươi sống ngay sau nhà ta, ngươi còn nhớ không?”
Liễu Hạ dĩ nhiên đã quên sạch nhưng Kỷ Văn Tuyển cũng không để bụng. Nhà hắn vốn là phú hộ ở thôn Kỷ Gia, còn bản thân thì đúng là một học trò dốt nát không khác gì “học tra” [học trò kém]. Học trò bị Tôn phu tử dùng thước phạt hôm nay, trong đó có cả hắn.
Kỷ Văn Tuyển chủ yếu là muốn làm quen với Liễu Hạ, để sau này trong lúc Tôn phu tử khảo hạch, có thể nhờ hắn giúp đỡ chút ít.
Liễu Hạ khẽ gật đầu. Trong học đường hắn vốn chẳng quen ai, lúc này cũng cần có người chỉ dẫn. Giờ học buổi chiều kết thúc, trên đường về nhà, hắn lắng nghe Kỷ Văn Tuyển thao thao bất tuyệt: nào là thói quen giảng bài của Tôn phu tử, nào là thành tích khảo hạch mấy năm gần đây của Thông Tế xã học, nói rằng trong huyện Đan Đồ thành tích không có gì nổi bật.
Đan Đồ huyện vốn thuộc phủ Trấn Giang, quản hạ ba huyện, trong khoa cử thường kém hơn hai huyện Kim Đàn và Đan Dương một bậc. Ở địa phận Nam Trực, Trấn Giang phủ lại càng khó so sánh với hai phủ Tô – Tùng [Tô Châu, Tùng Giang].
Tóm lại, một chữ: Khó!
Trong xã học Đại Minh, buổi học kéo dài đến giờ Dậu (khoảng 5 giờ chiều). Lúc ấy đang cuối xuân đầu hạ, trên đường về trời hãy còn sáng. Nhưng đất Trấn Giang phần lớn là đồi núi, đường về nhà phải lên xuống quanh co, lại thêm dọc đường gặp mưa, khiến giày của Liễu Hạ bị ướt.
Về đến nhà, Kỷ nương tử đã dọn cơm xong. Liễu Hạ đi học cả ngày, bụng đã đói meo, hắn ăn một hơi hết hơn nửa mâm cơm.
Kỷ nương tử vội nói:
“Ăn chậm thôi, trong nồi còn nhiều.”
Liễu Hạ vừa vì việc học tiêu hao tinh thần, vừa vì thân thể đang tuổi lớn mà thức ăn trong nhà lại ít dầu mỡ, khó no bụng. Hắn không kén chọn nhưng lượng thức ăn thì phải đủ.
Kỷ nương tử bèn kể rằng bà vừa nhận thêm một việc làm.
Lời ấy càng khiến Liễu Hạ gắng sức khổ luyện chữ nghĩa.
Hôm nay, bài giảng của phu tử về Thiên tự văn [sách vỡ lòng dạy chữ] đã giúp hắn thu hoạch không ít. Liễu Hạ vốn có thiên phú trong việc học, đầu óc linh hoạt. Nhưng nói thế nào đi nữa, từ văn bạch thoại* trực tiếp chuyển sang văn ngôn* vẫn có độ khó rất lớn. Lúc thi đại học ở kiếp trước, môn ngữ văn tuy cũng có văn ngôn, nhưng chỉ là một đoạn ngắn mà thôi, chứ không như hiện tại tất cả sách vở trong tay đều là bản văn ngôn, Liễu Hạ hoàn toàn chưa từng nhập môn, càng không biết phải hạ bút viết văn thế nào.
Hắn mang phần chú giải Thiên tự văn đã ghi chép trong lớp về nhà. Đời này trí nhớ của hắn cực kỳ tốt, những điều phu tử giảng trong lớp, hắn đã đại khái thuộc được. Vừa thầm ghi nhớ chú giải, hắn vừa lật xem các sách cổ mà Thiên tự văn dẫn dụng đến.
Ví dụ, câu “Nhuận dư thành tuế, luật lữ điều dương” [Ngày nhuận bổ sung thành năm, âm luật điều hòa cùng dương khí] thì câu trước đó lại xuất từ Thượng thư · Nghiêu điển. Thế là Liễu Hạ bèn tìm Thượng thư ra, đọc hết thiên Nghiêu điển. Trước đó hắn đã liệt kê rõ ràng danh sách tàng thư của Liễu Tín: Tứ thư, Ngũ kinh cùng các bản chú sớ đều có cả. Gặp chỗ nào không hiểu, hắn liền lật sách tham khảo.
Đêm đến, thời gian trôi qua thật nhanh. Trong thư phòng, nến vẫn sáng, ngoài cửa sổ thì đã tối đen như mực. Đây là cảnh tượng hoàn toàn khác hẳn với những đêm tăng ca ở kiếp trước: tĩnh mịch tuyệt đối, chỉ có tiếng côn trùng ngân nga. Khi đọc sách mỏi mệt, Liễu Hạ đẩy cửa bước ra, để cơn gió mát thổi vào. Hắn dùng nước vỗ lên mặt, đặt sách sang một bên, lại trải giấy, tiếp tục luyện chữ.
Đây chính là thời khắc tốt nhất để luyện chữ. Giữa đất trời, dường như chỉ còn lại một mình hắn. Trong lòng Liễu Hạ đã định sẵn kế hoạch, thì hắn tất sẽ tuân theo kế hoạch ấy mà tiến hành, không chút qua loa.
Hôm nay, hắn lấy Mạnh Tử ra luyện chữ, vừa viết vừa đọc. Bất tri bất giác, một tờ giấy đã kín chữ. Khi viết đủ năm tờ, Liễu Hạ đem so với mấy ngày trước, quả nhiên thấy tiến bộ rõ rệt. Sau khi viết mấy tờ chữ, cổ tay hắn đã mỏi nhừ, đó là vì dùng sức quá nhiều.
Kết thúc luyện chữ, Liễu Hạ đun nước nóng ngâm chân, thấy thân thể ngồi lâu được thư giãn phần nào. Có điều ở thời đại này, tắm rửa vẫn là chuyện phiền toái: một lần tắm phải mất rất nhiều công. Trời ấm thì còn đỡ nhưng khi trời lạnh sơ sẩy một chút là có thể nhiễm hàn.
Trước khi ngủ, hắn lại đọc thêm hai thiên sách. Chẳng bao lâu sau, Liễu Hạ đã chìm vào giấc ngủ.
Tuy không có nhiều hoạt động giải trí nhưng ít nhất vào buổi tối, hắn không còn cảnh nửa đêm bị điện thoại gọi đi làm thêm, cũng chẳng phải chịu sự thúc ép của cấp trên bất kể lúc nào. Ngày tháng chậm rãi nhưng lại khá dễ chịu.
Sau khi vào xã học, đời sống của Liễu Hạ dần dần ổn định lại: ban ngày đến xã học đọc sách, buổi tối về nhà tự học và luyện chữ. Chỉ hơn hai tháng, Liễu Hạ thấy mình tiến bộ rất nhanh. Hắn cho rằng nguyên do chính là vì hắn sống trong môi trường toàn chữ văn ngôn, cộng thêm bản thân vốn nhạy bén với những điều Tôn phu tử giảng. Khi phu tử giảng tới lời thánh nhân, Liễu Hạ thường lập tức nhớ đó là trích từ sách nào, thiên nào; nếu hoàn toàn không có ấn tượng, hắn sẽ chép lại câu đó rồi về nhà tra trong sách.
Kho sách của Liễu Tín đã bị hắn đọc gần hết; Tứ thư thì hắn đã thuộc lòng, tốc độ tiến bộ đến mức có thể gọi là nhanh. Trong tháng trước, Tôn phu tử vẫn còn khảo hạch Liễu Hạ về hai quyển Luận Ngữ và Đại Học, nhưng mấy ngày gần đây Liễu Hạ đã ôm theo Trung Dung và Mạnh Tử đến nhờ phu tử giải nghĩa. Phu tử vốn đã sửng sốt trước tốc độ của Liễu Hạ nhưng ông chưa hay biết rằng không chỉ Tứ thư, mà cả tập chú tụng (bản tập chú của Tứ thư) trong nhà của Liễu Tín cũng đã được hắn đọc qua.
Xét về thời gian và công sức, Liễu Hạ tốn nhiều hơn cả lúc hắn gồng mình ôn thi đại học ở kiếp trước; hơn nữa thi đại học có tới năm môn, còn khoa cử chỉ thi Tứ thư – Ngũ kinh. Dù kinh điển nhiều như mây như khói, triều đại Đại Minh cũng có những sách công cụ ôn thi như 《 Ngũ Tam 》chỉ cần chịu suy nghĩ, nhìn vấn đề từ nhiều góc độ thì học hành không đến nỗi khó như tưởng.
“Liễu Hạ, ngày mai cha ta phải lên huyện thành để giải quyết chuyện, ngươi có muốn cùng ta đi không?” — Kỷ Văn Tuyển hỏi.
“Huyện thành?” Liễu Hạ không do dự: “Ta sẽ đi cùng ngươi.”
Sau hai tháng học ở xã học, Liễu Hạ và Kỷ Văn Tuyển dần quen nhau. Kỷ Văn Tuyển thuộc tuýp người nói nhiều, thích tràn đầy thông tin; những người khác trong xã học đều chê hắn ồn ào. Chỉ có Liễu Hạ không bị ảnh hưởng: Kỷ nói gì thì nói, Liễu Hạ vẫn chỉ ngồi đọc sách và luyện chữ bên cạnh, không hề bị xao động, hai người vì thế mà đạt được một sự cân bằng hòa hợp.
Kỷ Văn Tuyển hơi thích khoe khoang: khoe có nhà ở huyện thành, khoe bút mực mới trong huyện, khiến người khác khó chịu mà sinh ghen. Vì vậy dù hắn có muốn gian lận cũng ít khi được ai tiếp tay. Liễu Hạ thường vẫn quan tâm tới hắn nhưng chỉ nhắc đừng quên bài phu tử; đến ngày phu tử khảo hạch, thường thì Liễu Hạ cũng không giúp Kỷ Văn Tuyển.
Thước dùng để răn dạy học trò trong tay phu tử đen nhánh, có lẽ vì đã đánh vào tay học trò quá nhiều mà mặt thước như phủ thêm một lớp dầu, ánh sắc càng thêm bóng sẫm. Huống chi Tôn phu tử vốn chẳng bao giờ nương tay khi dùng thước, Liễu Hạ hoàn toàn không muốn nếm thử cảm giác bàn tay bị đánh sưng tấy là như thế nào.
Đã có thể thuận tiện đi nhờ xe nhà họ Kỷ, Liễu Hạ dĩ nhiên cũng không khách sáo. Hắn muốn đến huyện thành, chủ yếu là để ghé qua thư điếm [hiệu sách] xem có sách mới, đồng thời cũng muốn tìm hiểu tình hình của huyện thành. Dù sao hắn đã xuyên tới đây mấy tháng mà đến ngay cả trấn trên cũng chỉ mới đi được đôi lần.
**Trong truyện, khi Liễu Hạ nói đến “白話文” (bạch thoại văn) và “文言文” (văn ngôn văn) thì ý nghĩa là:
1. Bạch thoại văn (白話文)
• Đây là văn ngôn hiện đại / văn nói phổ thông, tức tiếng Hán hiện đại gần giống ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày.
• Văn bạch thoại bắt đầu phổ biến mạnh từ đầu thế kỷ 20 (Phong trào Ngũ Tứ, 1919), dùng ngữ pháp và từ vựng hiện đại, giống như văn viết bây giờ ở Trung Quốc.
• Ví dụ hiện đại:
我们今天去上学。
(Chúng ta hôm nay đi học.)
2. Văn ngôn văn (文言文)
• Đây là văn viết cổ điển, tồn tại hơn 2000 năm, chủ yếu dùng trong kinh điển Nho học, văn chính trị, văn sử, văn thơ.
• Văn ngôn ngắn gọn, súc tích, nhiều điển cố, cú pháp khác hẳn tiếng Hán hiện đại. Người không học rất khó hiểu.
• Ví dụ cổ:
學而時習之,不亦說乎?
(Học rồi thường ôn tập lại, chẳng phải là vui lắm sao?)
3. Sự khác biệt giữa chữ hiện đại và cổ đại
• Chữ viết:
o Cả văn ngôn và bạch thoại đều dùng Hán tự, nhưng ngày nay Trung Quốc chủ yếu dùng giản thể字 (chữ giản thể), còn cổ văn và thời Minh – Thanh dùng phồn thể字 (chữ phồn thể).
o Ví dụ: 學 (học, phồn thể) → 学 (học, giản thể).
• Ngôn ngữ:
o Cổ đại: câu ngắn, bỏ chủ ngữ, nhiều hư từ đặc thù (乎, 者, 也…), ý nghĩa súc tích.
o Hiện đại: có cấu trúc chủ-vị-宾 (chủ–vị–tân), câu rõ ràng, dễ đọc hơn.
≧◔◡◔≦
------------------------------
Lời nhắn từ Toidoc:
Có những người như những cuốn tiểu thuyết kinh điển, càng đọc càng thấy hay, càng ở gần càng thấy trân trọng. Đừng vội vã, trang hay nhất thường nằm ở phía sau.
Toidoca.com lưu truyện bạn đang đọc tại 


-481703.jpg&w=640&q=75)



-532315.png&w=640&q=75)








-198627.png&w=640&q=75)




-481703.jpg&w=640&q=75)
-18792.png&w=640&q=75)


