Trang chủ
Chi tiết truyện
Danh sách chương
Trần Mạn và Tân Chỉ bị nhốt quá lâu trong chốn sơn lâm heo hút, nay hiếm có dịp xuống núi, chẳng khác gì được “xả hơi”. Lại thêm nhà đã có tiền, hai người đi mua đồ chẳng hề do dự, tiêu xài một cách thoải mái.
Bốn, năm mươi văn một cân thịt dê tươi? Lấy nửa con ngay!
Đừng nói nhà vẫn còn nuôi dê, mấy con dê nhốt ở sân sau là để dưỡng cho sinh dê con kia mà. Thịt đông trong tủ lạnh họ cũng đã ăn đến phát ngán, giờ đã xuống núi, gặp được hàng bán thịt tươi, làm sao có thể bỏ qua? Huống hồ mấy bữa vừa rồi ăn chẳng ra sao, nhà họ Lâm thì chẳng có nổi gia vị cho ra hồn, món ăn nhạt đến mức làm vị giác của Tân Chỉ suýt nữa thì... “tuyệt chủng”. Tối nay về phải nướng nửa con dê này cho thật ngon lành!
Mười lăm văn một cân sườn heo? Thế mà bỏ qua thì chẳng phải lãng phí cuộc đời à? Tất nhiên là phải mua rồi!
Nói đi cũng phải nói lại, cổ đại cũng có cái hay riêng, chỉ xét chuyện mua thịt thôi đã thấy rõ.
Người xưa không thích ăn nạc, do xưa kia ít có dịp ăn đồ mặn, nên khi mua thịt thường thích chỉ vào chỗ mỡ dày mà chọn, những miếng ba chỉ nửa nạc nửa mỡ ngược lại lại rẻ hơn mấy văn so với phần thịt khác. Gặp được chuyện tốt như vậy, đương nhiên phải mua hai cân về kho rồi!
Trước đó, Lâm lão đầu có nói với Tân Dũng rằng huyện thành cũng bị lũ lụt, vải vóc khó mua, nhưng sự thật không hoàn toàn là vậy. Chủ tiệm vải khôn ngoan lắm, vừa qua lũ là lập tức chạy lên tỉnh thành nhập hàng, tranh thủ lúc nhà nào cũng vừa bị nước cuốn mất y phục, nhắm vào lúc nhu cầu đang cao để bán đắt một chút, cũng là cách để bù lại tổn thất do thiên tai gây ra.
Tiệm vải trong huyện không chỉ bán vải, mà còn bán cả y phục may sẵn cho nam nữ. Đã có quần áo may sẵn thì Trần Mạn cũng chẳng muốn làm khổ mắt kém của mẹ chồng làm gì. Nhà có năm người, mỗi người mua hai bộ, cũng không phải để mặc hàng ngày, bình thường ở trong núi chẳng gặp ai, họ vẫn thích mặc đồ hiện đại cho tiện và mát mẻ.
Hai bộ này mua để mặc lúc xuống núi, đương nhiên giày tất đi kèm cũng không thể thiếu.
Một lần bán nhiều bộ đồ như vậy, ông chủ tiệm vải cười đến nỗi mắt híp lại thành một đường thẳng. Khi Trần Mạn thanh toán, ông ta còn tặng thêm hai chiếc khăn tay có thêu hoa nhỏ.
Ông chủ tiệm vải cũng phải thở dài rằng, mình đúng là có lúc nhìn lầm người, lúc Trần Mạn và Tân Chỉ mới bước vào, nhìn cách ăn mặc của họ, ông còn tưởng cùng lắm cũng chỉ chọn mua mấy loại vải thô rẻ tiền, nào ngờ người ta mở miệng là mua liền mười bộ thành y (đồ may sẵn), bộ đắt thì hai ba lượng bạc, bộ rẻ cũng hơn một lượng.
Quần áo may sẵn lãi nhiều lắm, vải là giá nhập, còn quần áo là do thợ may trong tiệm tự làm. Như kiểu đồ đơn giản không thêu hoa mà Trần Mạn mua, thợ khéo tay một ngày làm được ba bốn bộ là thường.
Chỉ một đơn hàng này, ông chủ tiệm vải đã lãi hơn mười mấy lượng bạc. Làm được một vụ lớn như vậy, đã thế lại là người biết làm ăn, ông ta đương nhiên phải tặng chút quà lấy lòng khách, mong rằng sau này Trần Mạn sẽ thành khách quen quay lại thường xuyên.
Trần Mạn sau khi phất lên đột ngột, có hơi “bay” một chút. Nếu hôm nay tiệm vàng bạc đá quý trong huyện mà mở cửa, e là nàng đã xông vào càn quét một trận, tiện thể sắm sửa luôn cho Tân Chỉ ít đồ cưới.
Thật ra, sau khi mua thịt và quần áo, nhà họ Tân cũng không còn thiếu thứ gì nữa. Trong Nông Gia Nhạc, cái ăn cái dùng đều có đủ, chất lượng thậm chí còn hơn cả hàng ngoài huyện. Gia vị ở cổ đại thì nghèo nàn ít ỏi, Tân Chỉ cũng muốn mua thêm chút hàng để bổ sung nhưng những gia vị nàng muốn thì không nơi nào bán cả.
Cuối cùng, dù chẳng còn gì cần mua, Trần Mạn vẫn không chịu kết thúc buổi mua sắm dễ dàng như vậy. Cố lôi kéo Tân Chỉ dạo hết một vòng chợ mua liền mấy cái giỏ tre, rổ tre, sọt tre, rồi thậm chí chui vào lò rèn, mua hẳn một cái nồi sắt to trói gọn lên lưng con la.
Phải nói rằng, lao động ở cổ đại thực sự không có giá trị. Một cái giỏ tre rất đẹp, vậy mà chỉ bán có mười văn. Chủ quán là một ông lão tóc bạc phơ, nói rằng để làm ra cái giỏ ấy, ông phải mất cả một ngày, mà công sức cả ngày trời ấy, đến một cân thịt heo rẻ nhất cũng không mua nổi.
Tuy vậy, người xưa lại dễ thỏa mãn hơn người hiện đại chỉ cần ăn no mặc ấm, với họ đã là cuộc sống tốt đẹp hiếm có rồi.
Mua sắm xong xuôi, Trần Mạn và Tân Chỉ liền ra cổng thành đợi Tân Dũng quay về.
Tân Dũng cũng không để họ phải chờ lâu, chừng nửa canh giờ sau, hắn đã vội vàng chạy tới.
Cổng thành người đông mắt tạp, cũng không tiện nói chuyện nhiều, người nhà họ Tân cũng không lắm lời, đợi dắt la rời khỏi huyện thành, Trần Mạn mới mở miệng hỏi:
“Thế nào? Lấy được cái bình rồi chứ?”
Tân Dũng vỗ vỗ vào phần ngực đang căng phồng trong áo, cười nói:
“Lấy rồi, tiểu nữ Điền gia cất kỹ lắm, vừa thấy ta đến là giao bình ngay. Lại thêm tám trăm lượng bạc vào tay nữa!”
Nghe đến đây, Trần Mạn nói ra cũng thấy lâng lâng:
“Giờ nghĩ vẫn còn thấy mơ màng... Mấy chai rượu, rồi thêm một cái chai rỗng, vậy mà mình lại bán được từng ấy tiền sao?”
Đây là bốn ngàn tám trăm lượng bạc đó, đổi sang vàng thì là ba mươi cân. Đống lại một chỗ thì cũng phải to như núi nhỏ rồi!
*Theo hệ đo lường thường dùng để cân vàng bạc của Trung Quốc cổ:
– 1 lượng ≈ 37,3g
– 10 lượng bạc ≈ 1 lượng vàng
– 1 cân = 16 lượng
→ 4.800 lượng bạc = 480 lượng vàng = 30 cân vàng (~18kg)
Tân Chỉ thì lại nhìn mọi việc rất rõ ràng:
“Công nghệ cổ đại lạc hậu, cái chai thủy tinh mà ở hiện đại nhìn thấy chẳng có gì đặc biệt, đặt trong bối cảnh này lại là báu vật vượt thời đại. Cả thế giới này hoàn toàn không có thứ như vậy, mà ‘vật quý ở chỗ hiếm’.
Này cũng chính là Thường huyện có ít người giàu, đừng nhìn Lý Hòa Dự bỏ ra từng ấy bạc mua rượu, thật ra hắn rất có tầm nhìn. Nếu hắn đem số rượu này lên Xương Đô, chuyển tay bán lại thôi, giá gấp đôi cũng có người tranh mua.”
Nghe vậy, Trần Mạn lập tức sốt ruột:
“Vậy chẳng phải là mình bán hớ rồi à? Sớm biết thế thì mang lên Xương Đô bán!”
Nếu mang rượu đến Xương Đô bán, chẳng phải là kiếm gấp đôi bạc hay sao?
Tân Chỉ liếc mắt đã đoán được tính toán trong đầu mẹ mình, nàng lắc đầu nói:
“Chuyện không đơn giản vậy đâu. Nếu thật sự đem đến Xương Đô, có tiền kiếm chưa chắc có mạng tiêu.”
Ở cổ đại, người bình thường không có nhân quyền. Đám quyền quý giàu có kia, giết chết mấy người dân đen như họ cũng chẳng khác gì bóp chết mấy con kiến, không đau không ngứa.
Nhà họ thì không tiền, không thế, thậm chí đối với cái thế giới này còn mù mờ, nếu đem rượu quý nghìn vàng lên Xương Đô, chẳng khác nào trẻ con ôm vàng đi giữa chợ, chỉ cần bị ai để ý, bị giết cướp rượu cũng không có gì lạ. Rủi ro quá lớn!
Họ đã may mắn giữ được mạng khi xuyên không qua trận động đất, đã vậy còn muốn vì chút tiền mà liều cả mạng sống nữa sao?
Mà Lý Hòa Dự thì lại khác. Nhìn qua đã thấy là người có gia thế, nếu không làm sao có thể tiện tay rút ra mấy nghìn lượng bạc như vậy được? Mà đến lúc này nhìn lại, hắn cũng là người tốt hiếm có, đối mặt với thứ rượu quý giá như vậy mà không hề có ý chiếm đoạt, trái lại đàng hoàng móc bạc ra mua, ít nhất cho thấy hắn không phải loại quan lại tham lam ức hiếp dân đen.
Làm ăn với người như vậy, ít ra tính mạng còn được bảo đảm đôi phần. Chứ thật sự mà đem lên Xương Đô bán rượu, ai biết được có còn sống mà quay về hay không?
Vả lại, hiện giờ một chai rượu bán được hơn một nghìn lượng bạc, đối với họ mà nói đã là một cái giá rất tốt rồi. Còn Lý Hòa Dự sau khi mua rượu rồi có kiếm được bao nhiêu bạc từ đó ấy là chuyện năng lực và bản sự của người ta, họ cũng không nên so đo, càng không cần ghen tỵ.
Sau một hồi phân tích của Tân Chỉ, Trần Mạn cũng hiểu rõ sự lợi hại trong đó, trên đường về cũng không còn nhắc đến chuyện mang rượu lên Xương Đô bán nữa.
Phải nói rằng, con la mà Lý Hòa Dự tặng thật sự là cứu cánh đúng lúc.
Hôm qua khi xuống núi, họ mất những tám, chín canh giờ, lần này quay về, toàn bộ hàng hóa đều để la chở, bước chân cũng nhẹ nhàng hơn nhiều. Họ ra khỏi thành lúc mười rưỡi sáng, mà đến chưa năm giờ chiều đã về tới nhà rồi.
Vừa về đến nhà, Tân Chỉ đã lập tức chạy đi tìm Điền Đông Tú và Trịnh Thanh Phân. Lần này xuống núi kiếm được nhiều bạc như vậy, nàng chỉ muốn nhanh chóng kể cho bà ngoại của bà nội biết, để hai người cùng vui mừng.
Thế nhưng Tân Chỉ đã đảo khắp nhà một vòng, mà vẫn không thấy bóng dáng Điền Đông Tú và Trịnh Thanh Phân đâu cả.
Tân Chỉ lập tức từ lầu nhỏ lao vọt ra ngoài, lớn tiếng gọi về phía Tân Dũng và Trần Mạn:
“Xảy ra chuyện rồi! Bà nội và bà ngoại không thấy đâu cả!”
Trong lòng Tân Chỉ vừa lo lắng lại vừa sợ hãi, cả người quýnh lên như kiến bò chảo nóng.
Bà nội và bà ngoại biết hôm nay họ sẽ về, lẽ ra phải đang ở nhà chờ sẵn mới đúng. Giờ hai người không có ở nhà, chắc chắn là đã xảy ra chuyện!
Trần Mạn lúc vừa về đến nhà cũng phát hiện không thấy hai bà cụ trong nhà, nhưng lúc ấy nàng không để tâm lắm, chỉ nghĩ chắc hai người già đang nghỉ ngơi trong khu nhà phụ, không có mặt trong khu nhà chính mà thôi, hoàn toàn không ngờ tới việc có thể đã xảy ra chuyện.
Chủ yếu là do thói quen tư duy cũ: trong đầu nàng luôn mặc định rằng, hai bà cụ ở trong nhà là an toàn tuyệt đối, chẳng thể nào có chuyện gì được.
Nhưng giờ nghe con gái nói hai bà không có trong lầu nhỏ, trong lòng Trần Mạn cũng bắt đầu thấy hoảng.
Dù sao đi nữa, Trần Mạn cũng từng trải hơn con gái nhiều, nên vẫn còn giữ được chút bình tĩnh, lên tiếng trấn an:
“Đừng vội, đi ra vườn cây ăn quả với ruộng xem thử đi, biết đâu hai bà đang ra đồng làm việc.”
Nàng nói vậy không phải không có cơ sở. Trong sân đỗ xe vẫn còn phơi mấy mẻ lạc đã rửa sạch, hôm qua lúc họ chuẩn bị xuống núi, Điền Đông Tú còn lẩm bẩm nói mấy ruộng đậu và ngô ngoài đồng đã đến kỳ thu hoạch, phải tranh thủ thời gian mà gặt hái. Vì vậy, rất có khả năng hai bà đang ở ngoài đồng thật.
Lời còn chưa dứt, Tân Chỉ đã nhấc chân chạy thẳng về phía vườn trái cây, vừa chạy vừa gọi với lại:
“Con đi tìm ở vườn cây và vườn rau, ba mẹ đi các chỗ khác xem thử!”
Sau khi Tân Chỉ rời đi, Tân Dũng cũng không ngồi yên. Sau khi bảo vợ thử ra ao cá xem sao, hắn liền phóng xe máy điện ba bánh chạy thẳng về phía ruộng lạc, nơi xa nhất so với khu nhà của họ.
Cuối cùng, Tân Dũng tìm thấy hai bà cụ ở ruộng ngô. Vừa thấy con trai, Điền Đông Tú đã vội chỉ tay về phía khu ngô bị đổ rạp:
“Đại Dũng à! Trên núi có lợn rừng đấy! Con nhìn đi, lũ lợn rừng này làm loạn cả ruộng ngô nhà mình rồi!”
Nhìn cả cánh đồng ngô bị cày nát, bắp thì bị cắn tả tơi, Tân Dũng quả thật bị dọa cho sững người.
Trịnh Thanh Phân thì bình tĩnh hơn hẳn, từ tốn nói rõ đầu đuôi cho con trai:
“Hôm qua lúc chúng ta thu hoạch lạc ở ruộng bên cạnh, ruộng ngô vẫn còn y nguyên. Chiều nay bọn ta định thu hoạch ngô, vừa tới nơi thì thấy thế này... Bao nhiêu ngô ngon lành, bị lợn rừng phá sạch!”
Lợn rừng thứ này trước đây cả nhà họ chẳng ai từng thấy. Sau khi xuyên tới thời cổ, tuy họ có đoán trong núi chắc hẳn có dã thú to lớn, nhưng đoán là một chuyện, còn việc nó thật sự xuất hiện lại là chuyện hoàn toàn khác.
Lợn rừng mà, thứ này vừa to vừa khỏe, da dày thịt chắc, lại còn có hai chiếc nanh dài nhọn hoắt, giờ nó chỉ mới phá ít ngô, chứ nếu bị nó húc một cái, ai mà chịu nổi?
Mà cho dù bình thường họ có né xa lợn rừng, không đụng mặt nó đi nữa, thì ruộng đồng nhà họ cũng không chịu nổi bị nó phá như thế.
Nhất là hiện tại, hầu hết những loại cây họ trồng đều là giống quý từ thế giới hiện đại, ở Thiên Hoa quốc chưa từng có. Mỗi loại đều quý giá vô cùng, nếu bị lợn rừng phá sạch thì đúng là tuyệt chủng ngay tại chỗ, không thể trồng lại được.
Nhìn những bắp ngô bị gặm đến không ra hình dáng, Tân Dũng vừa giận vừa bất lực, bèn đưa tay quẹt mặt một cái rồi nói:
“Kệ đi, giờ cứ lo thu hoạch ngô về trước đã. Mẹ với ngoại Tiểu Chỉ bẻ ngô, con quay về lái xe ba bánh tới chở. Tiện thể báo cho Tiểu Chỉ một tiếng, nó không thấy hai người, lo muốn chết rồi đấy.”
Tân Dũng trước kia từng xem qua tài liệu khoa học, nhớ rằng lợn rừng thường xuất hiện vào sáng sớm và chập tối. Bây giờ đã hơn 5 giờ chiều, mà bọn lợn còn mò ra phá ngô thì cũng không rõ tối nay nó có quay lại nữa hay không. Cẩn thận vẫn hơn, họ quyết định phải thu hoạch toàn bộ số ngô còn lại ngay lập tức, tránh đêm hôm bị phá sạch.
Nói cho đúng, số ngô này vốn dĩ là của người khác, chỉ là mảnh ruộng ấy cũng “xuyên không” sang thế giới này cùng họ. Giờ thì nó cũng thành tài sản của nhà họ Tân.
Thật ra mấy chục năm trước, khi tài nguyên quốc gia còn thiếu thốn, ngô từng là lương thực chính, vì cây ngô vừa chịu hạn vừa dễ trồng. Khi ấy, nó là loại cây trồng phổ biến thứ ba, chỉ sau lúa và lúa mì.
Chẳng qua là những năm gần đây, đời sống người dân khấm khá lên, nên không mấy ai còn coi ngô là lương thực chính. Hầu hết mọi người, kể cả nhà họ Tân, một năm ăn ngô chỉ để đổi vị cho vui miệng, chẳng hạn như luộc vài bắp ăn chơi.
Bây giờ, ngô chủ yếu được dùng làm thức ăn cho gia súc. May mắn là năm nay họ “vớ” được ruộng ngô này, số ngô thu hoạch về, ngoài một ít để ăn, thì cũng chỉ dùng để nuôi mấy chục con gà trong vườn cây ăn trái mà thôi.
Tạm chưa bàn chuyện bắp ngô, thì Tân Chỉ, sau khi tìm mãi không thấy người ở vườn cây, nghe ba nói bà ngoại và bà nội không sao, chỉ đang thu hoạch ngô, thì lập tức thở phào nhẹ nhõm.
Sau khi cả nhà gặt hết mấy trăm cân ngô và bó lại đống thân cây, đem về đến nơi thì trời cũng chập tối.
Ban đầu Tân Dũng chỉ định nấu gì đó đơn giản để ăn tạm, nhưng Tân Chỉ thì vẫn thòm thèm món thịt dê nướng mà lúc trưa ra chợ mua, cứ nhắc mãi không thôi. Cuối cùng, Tân Dũng đành phải quấn tạp dề, chui vào bếp mà chuẩn bị bữa tối tử tế.
Trần Mạn dĩ nhiên phải vào bếp phụ chồng, còn Tân Chỉ thì rảnh tay, bèn xách ghế nhỏ ra ngồi cùng bà ngoại và bà nội bóc vỏ ngô ngay tại sân đỗ xe.
Vỏ và thân cây ngô còn tươi nguyên, đem cho dê và la ăn thì đúng là ngon – bổ – rẻ.
Con la mà Lý Hòa Dự tặng hôm nọ hôm nay đã phát huy đại công dụng nên lúc cho ăn Tân Chỉ cũng đặc biệt “ưu đãi”, ném cho nó một bó lớn thân ngô, kèm theo nửa thùng trái cây rụng.
Số trái cây đó là do hai bà nhặt trong vườn lúc sáng. Đám dê nhà họ dạo gần đây ăn riết thành nghiện.
Về đến nhà rồi, lại được ngồi trước sân quen thuộc, Tân Chỉ cuối cùng cũng thấy người thả lỏng. Tay thì vẫn bóc vỏ ngô nhưng miệng thì liến thoắng không ngừng, kể vanh vách cho hai bà nghe chuyện ly kỳ dưới núi, từ lúc xuống chợ đến lúc bán rượu.
Trước đó, Điền Đông Tú và Trịnh Thanh Phân chỉ nghe Tân Dũng lướt qua vài câu đại loại rằng lần này xuống núi bán được giá tốt, nhưng vì đang mải thu hoạch nên cũng chẳng hỏi kỹ.
Giờ nghe Tân Chỉ bảo rằng chỉ mấy chai rượu mà bán được hơn bốn ngàn lượng bạc, hai bà lão sững người há hốc mồm.
Điền Đông Tú kích động đến mức vung cả bắp ngô trên tay:
“Ở đây chai thủy tinh mà cũng đáng giá thế sao? Nhà mình còn cả một bức tường đầy chai rỗng đấy! Nếu mang bán hết thì chẳng phải phát tài luôn à?”
Bức tường mà bà nói chính là khoảng ngăn giữa bếp và khu ngồi ngoài trời của nhà nghỉ, nơi treo đầy chai thủy tinh trang trí.
Hồi còn ở hiện đại, bếp nhà họ là kiểu nửa kín nửa hở. Khi làm trang trí, Trần Mạn vốn định treo rèm ngăn giữa bếp và sân ngoài, nhưng Tân Chỉ phản đối, bảo rằng “treo rèm trông quê lắm”. Nàng lên mạng đặt về một đống dây thừng và chai thủy tinh, rồi treo kín cả một mặt tường. Trong mỗi chai còn đổ đầy nước và cắm thêm cành trầu bà, tạo thành mảng xanh rũ xuống đẹp mắt.
Tân Chỉ nói đây gọi là phong cách ins. Còn “ins” là gì thì Trần Mạn bọn họ chẳng ai hiểu, chỉ thấy trông đúng là lạ mắt, mát mắt nên giữ lại nguyên vậy.
Nhưng giờ nghe con bé nói chai thủy tinh ở đây quý giá lắm, Điền Đông Tú nhìn lại bức tường đó, trong mắt không còn là chai lọ nữa mà là cả núi vàng núi bạc!
Thấy bà nội ánh mắt sáng rực nhìn đống chai, Tân Chỉ sao không hiểu bà đang nghĩ gì.
Nàng dở khóc dở cười lắc đầu:
“Nội ơi, chai này đáng giá là vì hiếm, vì mình chỉ bán có mấy cái. Nếu đem cả bức tường đó đi bán, ai cũng có, thì nó còn quý nữa đâu?”
“Với lại, giờ mình sống trên núi, chẳng tiêu pha gì mấy. Bán rượu lần này cũng đủ xài mấy năm rồi. Mình không cần vội vàng đem hết đi bán, nguy hiểm lắm!”
Lần vừa rồi bán rượu, chính nàng đã bị dọa một phen hú hồn, tim còn chưa hoàn hồn. Bán thêm vài lần nữa, chắc có ngày nàng đổ bệnh vì lo sợ.
Người dân dưới núi, một năm tiêu xài chỉ vài lượng bạc là cùng. Nhà họ thì ăn ở tự cung tự cấp, thỉnh thoảng mới xuống núi mua chút đồ, nên thực sự không thiếu tiền đến mức phải liều lĩnh.
Chính vì vậy, dù lần này giá rượu bán được cao đến bất ngờ, không chỉ bà nội, mà ngay cả vợ chồng Tân Dũng cũng bắt đầu “tính toán”, muốn gom hết chai lọ trong nhà đi bán lấy bạc, sống sung sướng cả đời.
May mà vẫn còn Tân Chỉ giữ được cái đầu tỉnh táo. Giờ không nên gây chú ý, kẻo bị người ta nhòm ngó.
Gia đình nàng ở thế giới này chẳng có chỗ dựa nào, cũng không có khả năng chống đỡ rủi ro. Một khi bị cuốn vào tranh đoạt thì hậu quả không tưởng nổi.
Sợ cả nhà bị bạc làm mờ mắt, tối hôm ấy ăn thịt cừu nướng, Tân Chỉ đành phải ngồi giảng đạo lý từ đầu tới cuối, phân tích từng nguy cơ, kể thêm mấy chuyện quan quyền áp bức dân lành trong lịch sử, cuối cùng mới khiến mọi người chịu lùi bước.
Trần Mạn vốn nhát gan, nghe xong thì mặt cắt không còn giọt máu, lo lắng nói:
“Nhưng mà… chẳng phải hôm nay mình đã hứa bán thêm chục chai cho huyện lệnh rồi sao? Giờ lại nói không bán nữa thì… có phải thất lễ quá không?”
Dù gì thì Lý Hòa Dự cũng là quan huyện, có quyền có thế ở Thường huyện này, bọn họ đắc tội nổi sao? Nếu chọc giận hắn ta, e là cũng chẳng có kết cục gì tốt.
Tân Chỉ liền trấn an:
“Vẫn bán chứ, đã hứa thì phải giữ lời. Nhưng sau lần này thì nghỉ một thời gian. Nếu hắn hỏi tiếp, mình sẽ nói rượu làm ra ít, bán rồi là hết luôn, không còn nữa.”
“Loại người như Lý Hòa Dự, mình càng phải cẩn trọng, giữ khoảng cách.”
Cả nhà đều đồng ý với cách xử lý này. Qua chuyện lần này, họ cũng nhận ra, dù tuổi tác có lớn hơn Tân Chỉ, sống lâu hơn con bé mười mấy năm, nhưng nhìn xa trông rộng, tính toán đường dài thì đúng là thua xa.
Bà nội và bà ngoại quanh năm ở quê, lo chuyện đồng áng. Ba thì quanh quẩn trong bếp, mẹ thì tiếp khách phục vụ. Cả nhà bận bịu chuyện vụn vặt, không ai nghĩ xa được như con gái nhỏ.
May mà vẫn còn kịp nhận ra, từ nay nghe con bé là được rồi.
“Ngày mai anh lên núi đào mấy bụi gai có móc về, trồng kín quanh nhà làm hàng rào.”
Hôm trước hái nấm trên núi, anh từng thấy loại bụi gai thân to, đầy móc nhọn, rất khó xuyên qua. Trồng xung quanh nhà và ruộng sẽ hạn chế lợn rừng tấn công.
Tân Chỉ và mọi người cũng không rảnh rỗi. Quả đào trong vườn sắp hỏng hết, không thể để lãng phí. Nàng chợt nhớ ra trên chợ có bán mơ khô, vậy đào cũng có thể làm mứt đào khô.
Trần Mạn từng làm đào ngâm với các cô trong làng, giờ làm đào khô thì càng dễ.
Cách làm cũng đơn giản: gọt vỏ, thái lát mỏng bằng ngón tay, trụng nước sôi, phơi vài ngày là xong. Trời nóng thế này, nắng to, chỉ cần 2–3 ngày là được.
Trong khi đó, Tân Dũng cũng bận tối mặt tối mũi. Hắn đào hết bụi gai trên núi về, trồng kín xung quanh nhà nghỉ, coi như làm hàng rào phòng vệ. Còn quanh ruộng thì đành đợi đến mùa thu mới gom được hạt giống để gieo trồng thêm.
Dù sao thì an toàn của cả nhà vẫn là trên hết. Lương thực bị lợn rừng phá, cùng lắm thì xuống huyện mua. Nhưng nếu người mà bị thương, thì mới thực sự là chuyện lớn.
Trong nhà đúng là có sẵn ít thuốc men cơ bản, nhưng mấy thứ đó chỉ đủ trị cảm sốt đau đầu. Chứ mà bị lợn rừng táp cho một phát, thì mấy viên thuốc đó chẳng có tác dụng gì đâu.
Lo xong chuyện an toàn, Tân Dũng lại quay sang giải quyết vấn đề chỗ ở của la và dê. Cứ để tụi nó lang thang sau nhà mãi không ổn, mấy hôm thôi mà phân dê chất đống, đi qua là... ngửi mà phát choáng.
Sống tự lập thì chuyện gì cũng phải tự làm. Nhưng không có đinh, dựng chuồng phải dùng khớp mộng kiểu truyền thống. Đục lỗ, gắn gỗ mới làm vài hôm mà tay hắn đã phồng hết cả lên.
Hắn vừa kêu đau, bà nội đã nhắc ngay:
“Lần sau xuống núi thì nhớ mua bộ đồ nghề mộc đầy đủ. Bàn ghế, tủ giường sau này hư hỏng còn tự sửa được.”
Đúng là giờ chẳng thể cho người ngoài lên núi, mọi việc đều phải tự làm.
Vậy nên, nghề mộc... xem ra Tân Dũng phải học thôi.
Thấy mấy người phụ nữ trong nhà nhìn mình với ánh mắt vừa ngưỡng mộ vừa trông chờ, hắn chỉ thấy vai mình như nặng thêm mấy chục ký.
≧◔◡◔≦
------------------------------
Lời nhắn từ Toidoc:
Có những người như những cuốn tiểu thuyết kinh điển, càng đọc càng thấy hay, càng ở gần càng thấy trân trọng. Đừng vội vã, trang hay nhất thường nằm ở phía sau.
Toidoca.com lưu truyện bạn đang đọc tại 




-532315.png&w=640&q=75)




-198627.png&w=640&q=75)







-481703.jpg&w=640&q=75)




